Truyện: Công chúa tóc dài ( Truyện Dân Gian)

Ngày xưa có một đôi vợ chồng nghèo sống ở một ngôi nhà nhỏ nhắn ven rừng. Một hôm người vợ thấy cạnh nhà có một giống hoa màu tím lạ, nên nài nỉ bắt ông chồng hái cho được bông hoa đấy.

Thương vợ người chồng leo qua tường hái bông hoa ấy. Nhưng người chồng không ngờ rằng đây là khu vườn của mụ phù thủy. Bà ta bắt gặp người chồng hái trộm nên ra điều kiện:

– Nếu ngươi chịu giao đứa con đầu lòng của ngươi cho ta, ta sẽ tha cho ngươi.

Quá sợ lời nguyền của mụ phù thủy nên người vợ đành chấp nhận lời đề nghị của mụ. Năm ấy người vợ hạ sinh một đứa con gái và vợ chồng họ đành giao đứa con gái đầu lòng của mình cho mụ ta.

Thời gian trôi qua cô bé càng lớn càng xinh đẹp nhất là bộ tóc dài vàng óng mượt. Sợ nàng trốn thoát mụ phù thủy đã đem nàng nhốt trên một ngọn tháp cổ rất cao. Mỗi khi về tới nhà mụ phù thủy lại gọi:

– Tóc dài! Tóc dài!

Thế là cô gái thả mái tóc xuống để mụ phù thủy leo lên. Ở trên tháp cổ một mình ngày nào cô gái tóc dài cũng cất cao tiếng hát để xua đi nỗi cô quạnh.

Một hôm có vị hoàng tử cưỡi ngựa đi ngang qua chợt nghe thấy tiếng hát của nàng. Chàng tò mò đến gần và thấy sự kiện lạ lùng khi thấy mụ phù thủy leo lên và leo xuống cái tháp bằng mái tóc dài của nàng.

Chờ mụ ta đi khuất chàng đến bên tháp bắt chước làm theo mụ phù thủy. Khi gặp được cô gái tóc dài, Hoàng tử cùng cô gái đàn ca vui vẻ họ trở nên thân thiết nhau hơn. Và chàng hẹn với cô gái hôm sau sẽ quay trở lại nữa.

Tối đến khi mụ phù thủy trở về nhà, cô gái đã thật thà kể lại hết câu chuyện cho mụ phù thủy nghe. Bà ta tức giận cắt mái tóc dài của cô gái cột vào cửa sổ. Rồi bà ta dắt cô gái bỏ vào rừng sâu.

Sáng hôm sau hoàng tử lại đến và leo lên tháp. Chàng gặp mụ phù thủy đứng bên cửa sổ và biết là mình đã bị lừa. Mụ phù thủy cười khoái trá và cắt mái tóc để hoàng tử rơi từ trên cao xuống. Nhưng rất may chàng lại rơi trên đống tóc dài mà mụ đã cắt đi. Còn mụ phù thủy lúc này mới nhận ra rằng mình không còn cách nào để leo xuống và bị nhốt trên tháp cao suốt cuộc đời.

Đến lúc này thì Hoàng tử chạy đi tìm cô gái ở khắp nơi, bất chợt nàng nghe văng vẳng tiếng hát của nàng ở mãi tận rừng sâu. Chàng vui mừng thúc ngựa chạy mau vào rừng và gặp lại cô gái.

Chàng vui mừng dẫn nàng về ra mắt vua cha và xin với vua cha được cưới cô gái tóc dài làm vợ. Từ đó họ sống bên nhau thật hạnh phúc. Và nàng cũng đã tìm lại được cha mẹ nghèo khó của mình nơi xa xôi sau bao năm xa cách.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Giăng bị thịt ( Truyện Dân Gian)

Ở giữa vùng thôn quê, có một cái lâu đài cổ, trong lâu đài có một ông hoàng già và hai cậu con trai.

Các cậu này thông thái đến nỗi người khác chỉ cần hiểu biết bằng một nửa các cậu cũng đã khá uyên bác rồi. Họ đều muốn hỏi con gái nhà vua và họ có thể làm việc ấy vì công chúa đã tuyên bố sẽ lấy người nào có tài ứng phó trước mặt nàng.

Cả hai cậu dành ra tám ngày để chuẩn bị. Công chúa chỉ ra hạn có từng ấy ngày, nhưng như thế cũng thừa đủ đối với các cậu: các cậu tài cao học rộng nên sau tám ngày đã chuẩn bị xong xuôi. Một cậu học thuộc lòng cả quyển tự vị la tinh và tất cả các số báo hằng ngày ra trong thành phố ba năm gần đây, đọc xuôi hay đọc ngược cũng được. Cậu kia học thuộc làu bộ luật và tất cả sự hiểu biết của một vị quan tòa; cậu cho rằng mình có đủ tài để ngồi bàn việc nước. Cậu lại còn khéo tay biết cả thêu thùa nữa. Cả hai đều tự phụ rằng mình sẽ lấy được công chúa.

Cha các cậu cho mỗi người một con ngựa; cậu thuộc tự điển và báo chí được con ngựa đen; cậu thuộc luật và biết thêu thùa được con ngựa trắng như sữa. Họ còn dùng dầu hạnh nhân bôi nhờn mép để có thể nói được lâu.

Khi các cậu lên ngựa, quân hầu đầy tớ đến trực sẵn cả ở sân nhà dưới. Lúc đó cậu em giai thứ ba đến. Đúng là ba anh em, nhưng cậu thứ ba quá dốt nên chẳng ai đếm xỉa đến. Người ta chỉ gọi cậu là Giăng bị thịt mà thôi. Cậu hỏi các anh:

– Các anh đi đâu mà diện quần áo ngày hội thế?

– Đi lên kinh đô đàm đạo với công chúa đây. Mày không nghe quân lính đánh trống loan báo khắp nước à?

Rồi họ kể lại cho cậu nghe đầu đuôi câu chuyện. Giăng bị thịt bảo:

– Này, tôi sẽ đi với các anh.

Nhưng các anh cậu thì cười ồ lên và phi ngựa đi thẳng. Giăng bị thịt kêu lên:

– Thưa cha, xin cha cũng cho con một con ngựa. Con muốn lấy vợ lắm rồi. Nếu công chúa ưng lấy con thì lấy, nếu nàng không lấy thì con cũng cứ lấy nàng.

– Không! Chẳng có ngựa cho mày đâu. Mày không nên đợi, nói không nên lời, có đâu được lịch sự giỏi giang như các anh mày.

– Không có ngựa à? Được rồi, con sẽ cưỡi con dê của con, cần gì!

Cậu nhảy phóc lên con dê đực của cậu, lấy gót chân thúc cho nó mấy cái vào hông rồi thẳng đường cái quan ra đi.

Hấp ! Hấp ! Cậu phi nhanh phải biết!

– Có em đây! – Cậu gọi to và có tiếng vang đáp lại.

Hai người anh lặng thinh rong ruổi phía trước trên mình ngựa, họ chẳng nói chẳng rằng và còn mãi nghĩ đến những câu văn hoa cần phải nghiên cứu cho kỹ để đem ra thi thố với công chúa.

Giăng bị thịt gọi to:

– Hấp ! Hấp ! Có em đây. Em nhặt được vật này dọc đường đây này.

Nói rồi cậu giơ ra một con quạ chết.

– Bị thịt đáng thương ơi! Em định dùng cái của ấy làm gì thế?

– Tặng công chúa.

– À ! Hay đấy!

Họ vừa nói vừa cười rồi đi thẳng.

– Hấp ! Hấp ! Hấp ! Có em đây ! Các anh hãy xem đây: chẳng mấy khi nhặt được cái của này trên đường đâu.

Hai người quay lại, nhìn xem cái gì và nói:

– Bị thịt ! Chiếc guốc cùn ấy mày cũng định đem tặng công chúa chắc?

Bị thịt trả lời:

– Vâng, đúng thế đấy ạ.

Hai người lại cười rộ và phi ngựa bỏ đi trước rõ xa. Một lát sau bị thịt lại gọi to:

– Hấp ! hấp ! hấp ! Có em đây ! Quả thật mỗi lúc một phấn chấn, các anh ạ. Cái này thì tuyệt !

– Lại nhặt được gì nữa thế hử?

– Một thứ vô song, phen này công chúa hẳn phải vừa ý.

– Eo ơi ! Bùn bốc dưới cống lên đấy à?

– Vâng , đó là thứ bùn mịn nhất đấy ạ.

Nói rồi Bị thịt bốc bùn bỏ đầy túi. Các ông anh cho ngựa phi nước đại, đến cổng thành trước Giăng có đến 1 tiếng đồng hồ. Người ta phát số thứ tự cho những kẻ đến cầu hôn và họ đứng sắp hàng sau, chen nhau đến nỗi không nhúc nhích nổi cánh tay. Làm thế là cần thiết, nếu không họ sẽ đánh nhau vì người nọ tranh nhau đứng trước người kia.

Nhân dân đứng xúm quanh cung điện, nhìn qua cửa sổ để xem công chúa kén chồng. Thương thay cho các anh chàng! Vừa vào đến nơi đã tịt mít không nói được một tiếng.

Công chúa truyền:

– Đến lượt người khác.

Đến lượt một người anh của Bị Thịt, người đã học thuộc lòng quyển tự vị, nhưng chỉ mới đứng xếp hàng thôi, cu cậu đã quên ráo cả. Lúc bước trên sàn kêu kèn kẹt và nhìn vào trần lát toàn bằng gương, cậu thấy như là đi lộn ngược, đầu xuống đất, chân lên trời. Bên cửa sổ lại còn có ba viên lục sự và một pháp quan ngồi ghi chép các câu trả lời, ghi đến đâu lập tức được đăng lên tờ báo bán ở đầu phố, hai xu một số. Thế thì làm gì mà chẳng cuống cuồng ! Cũng cần nói thêm rằng lò sưởi đốt nhiều than đến nỗi trông cứ đỏ rực lên.

Anh chàng đến cầu hôn nói :

– Ở đây nóng quá!

Công chúa đáp:

– Là vì hôm nay vua cha cho quay gà.

Chết cha ! Thật là một vấn đề bất ngờ đối với cu cậu. Tịt ! Cu cậu đứng đực ra chẳng nói được lấy một tiếng nào, vì cu cậu còn đang mải sáng tác một câu thật dí dỏm. Thế là tịt ! Tịt ! Công chúa lại phán:

– Lại một tên nữa không ra gì. Đến lượt người khác!

Cu cậu phải chuồn, nhường chỗ cho người em. Anh chàng này lại nói:

– Ở đây nóng khiếp quá!

– Phải, tại hôm nay chúng tôi quay gà ấy mà.

– A ! A ! Thế nào kia?

Anh ta nói xong, các thầy ký lục vội vàng vào sổ : “A ! A ! Thế nào kia ?”

Công chúa phán:

– Lại một tên nữa không ra gì ! Đến lượt người khác !

Lúc ấy đến lượt Giăng bị thịt. Cậu dắt cả con dê vào phòng và kêu to:

– Nóng gì mà nóng khiếp thế này.

Công chúa nói:

– Là vì chúng tôi đang luộc gà.

Bị thịt đáp ngay:

– Ồ ! Thế thì còn gì bằng! Cho luộc nhờ con quạ này được không?

– Được lắm chứ! Công chúa nói; nhưng anh có cái gì đựng không? Ta không có nồi cũng chả có xoong đâu.

– Có đây, nồi đây!

Nói rồi Bị thịt chìa chiếc guốc cùn ra và đặt con quạ vào trong.

Công chúa bảo:

– Thế thì được bữa ăn ngon đấy; nhưng lấy đâu ra nước sốt?

– Trong túi đây – Giăng nói – mà còn có thừa để bán lại nữa kia đấy!

Nói rồi cu cậu móc trong túi ra một ít bùn.

Công chúa nói:

– Được đấy! Anh trả lời được đấy, biết ăn nói đấy. Anh sẽ là chồng ta. Nhưng anh có biết rằng từng câu, từng chữ chúng ta đang nói và đã nói đều được ghi bằng tốc ký và sẽ đăng trên báo không? Anh có trông thấy ba viên lục sự và vị pháp quan già ngồi gần cửa sổ kia không? Lão già ấy gớm lắm, đúng là một con diều hâu!

Dọa thế, công chúa tưởng Giăng bị thịt sợ; vừa lúc ấy ba viên lục sự cũng phùng mang trợn mắt, hất đổ cả lọ mực xuống đất. Giăng nói:

– Các ngài này ấy à? Được, ta sẽ biếu viên pháp quan phần lớn nhất.

Nói rồi Giăng bị thịt lộn trái túi áo lấy bùn ném vào đầy mặt viên pháp quan.

Công chúa reo lên:

– Hoan hô ! Hoan hô ! Đến ta cũng không nghĩ ra, nhưng bây giờ thì ta học được cách xử sự ấy rồi.

Giăng bị thịt được làm vua, vừa được vợ, vừa được cả mũ miện lẫn ngai vàng.

Câu chuyện này tôi đọc được trong một tờ báo do viên pháp quan viết, nhưng truyện này liệu có đáng cho chúng ta tin hay không nhỉ ?

Nguồn: Truyện cổ tích Andersen

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Video: Truyện cổ tích Cô bé lọ lem ( Truyện Dân Gian)

Ngày xửa ngày xưa ở một nơi xa xôi có một ông nhà giàu góa vợ, sống trong một căn nhà lớn xinh đẹp với đứa con gái duy nhất. Ông dành cho cô con gái xinh đẹp dễ thương tất cả tình yêu thương ông có và tất cả những gì cô bé muốn : áo quần đẹp đẽ, một con ngựa và một con chó con. Dù vậy ông biết rằng con gái ông cần sự chăm sóc của một người mẹ hiền. Ông tục huyền, ông cưới một phụ nữ có hai cô con gái trạc tuổi con ông, hy vọng hai cô này sẽ vui đùa với con gái ông.

 …

Nguồn: Sưu tầm

 

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Sự tích Hoa Tuyết ( Truyện Dân Gian)

Khi bà Chúa Tuyết sinh hạ được một cô con gái, bà phải suy nghĩ rất lâu rồi mới quyết định đặt tên con gái là Xnhedinca.
Xnhedinca trắng trẻo, mái tóc cùng trắng, nằm trên chiếc giường trắng, phía dưới là những tấm vải đệm bằng mây trắng. Khi Xnhedinca vừa đến tuổi trưởng thành đã có mấy chàng trai đến cầu hôn. Người đến trước nhất là Mặt Trăng, nhưng Xnhedinca không ưng vì chẳng có cái trán hói, đêm đêm không chịu ngủ mà cứ lang thang trên bầu trời, còn ban ngày thì lại giấu mặt sau những đám mây. Người thứ hai đến xin cầu hôn là Tia Nắng, nhưng chàng cũng bị Xnhedinca từ chối.
Chúa Ông giận lắm. Một hôm ông nghiêm khắc nói với con gái:
– Nếu con không tự kiếm được chồng thì cha mẹ đặt đâu, con phải ngồi đấy.
Chúa Ông nhắn tin cho Gió, kẻ thống lĩnh cả bầu trời xanh có đến bốn người con trai chưa đứa nào thành gia thất. Gió bè đáp chiếc xe trang hoàng lộng lẫy do những con tuấn mã phi cực nhanh tới ra mắt Chúa Ông. Xnhedinca được gả bán cho đứa con trai cả của Gió – đó là chàng Gió Bắc. Chúa bà lấy làm hạnh phúc chuẩn bị của hồi môn cho con gái, nào là chăn lông chim, gối bông tuyết mềm, những tấm vải trải giường bằng mây trắng, rồi hàng chuỗi hạt cườm vòng cổ bằng tuyết lấp lánh.
Khi khách mời đến đông đủ, Xnhedinca hiện ra như một nàng công chúa. Bà con họ hàng rất hài lòng được đến dự ngày vui, ai cũng khen hai bạn trẻ thật xứng đôi, phải lứa. Chỉ riêng Xnhedinca là không hài lòng chút nào. Chả là đương lúc yến tiệc, chàng Gió Bắc bỗng hét toáng lên: “Nóng quá! Nóng quá!” khi chàng khẽ chạm vào cặp môi lạnh toát của mình vào cặp môi của nàng.
– Con không thể yêu chàng được – Xnhedinca thở dài nói. Nàng nói nhỏ đến mức ngoài mẹ nàng ra chẳng ai có thể nghe được tiếng nàng.
“Không lẽ con gái yêu cảu ta lại là đứa bất hạnh”. Trái tim người mẹ bỗng run lên trước một sự tiên đoán đáng sợ.
Đúng lúc yến tiệc đang rôm rả thì chàng rể lên tiếng bảo em trai Gió Nam chơi một bản nhạc nhảy. Gió Nam đang ngồi ở mép một đám mây bèn rút trong vạt áo ra một ống sáo và bắt đầu thổi. Giai điệu nhẹ nhàng lan toả, cnốn hút Xnhedinca vào cuộc nhảy. Nàng lả lướt, quay người, đập đập gót giày vào nhau phát ra tiếng kêu lanh canh, trong lúc đó, chàng Gió Đông, người em chồng tinh nghịch cứ vỗ tay cười. Chỉ có chàng Gió Tây là mỗi lúc một thêm thất vọng, đau khổ rồi gục đầu vào vai cha thổn thức. Gió Cha kinh ngạc hỏi:
– Con trai của ta, ngày vui thế này, có sao con lại để rơi luỵ?
Chàng Gió Tây nức nở:
– Vì sao cha lại dạm hỏi nàng Xnhedinca cho anh lớn mà không phải là cho con? Vì sao nàng lại không thể là vợ của con?
Lúc này chàng Gió Nam mới ngước cặp mắt bồ câu của mình nhình Xnhedinca và chàng đã bắt gặp cái ánh nhìn lên của nàng. Tiếng sáo nghe càng du dương hơn khi nó vang lên chỉ để dành cho một mình Xnhedinca thôi, còn Xnhedinca thì nhảy cũng chỉ để cho chàng Gió Nam. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chàng Gió Bắc ác độc và đầy ghen tuông kia bắt được? Bà Chúa Tuyết vô cùng đau khổ.
– Con gái yêu ơi, hãy biết kiềm chế trái tim mình! – Bà Chúa khẽ van nài khi Xnhedinca quay tròn gần chỗ bà.
Nhưng một trái tim đang thổn thức vì tình yêu thì kiềm chế làm sao được? Chả lẽ Xnhedinca lại có thể làm được cái điều mà ngay cả những kẻ ngu ngốc lẫn những đấng anh minh đều chịu bó tay sao?
Có thể vì mải nói chuyện với Chúa Ông nên Gió Bắc không hay biết gì, nếu như Gió Tây không khích bác chàng bằng một tiếng cười ác độc:
– Xnhedinca của anh sắp nở hoa nhờ những cái nhìn cháy bỏng của thằng út nhà ta đấy.
Nghe nói vậy, Gió Bắc đấm mạnh xuống bàn, hét lên vì tức giận, mắng Gió Nam:
– Hãy cất ngay ống sao đi, nếu không ta sẽ đập vỡ đấy!
Tiếng sao chỉ còn lí nhí như tiếng chim rồi câm bặt. Xnhedinca lúng túng liếc nhìn cặp mắt bồ câu của Gió Nam như muốn dò hỏi: phải chăng đó chỉ là tình yêu thoáng chốc của chàng. Nàng nhớ lại cái giây phút Gió Bắc đứng phắt dậy và gầm lên:
– Xnhedinca, em đừng quên rằng em là của anh, còn mi, thằng em kia, đừng quên rằng này không hề là của mi! Và bây giờ, Xnhedinca, em hãy nhảy để anh đệm sáo!
Gió Bắc cho các ngón tay vào mồm và huýt the thé khiến mọi người ai nấy có cảm giác bị kiến bò sau lưng.
– Nhảy đi! Nhảy đi! – chàng hét Xnhedinca.
Còn nàng thì đang đắm đuối trước đôi tay giơ ra chào mời của chàng Gió Nam. Nàng toan quay đi song đôi chân nàng bị băng cứng lại rồi, và chúng đã cưỡng lại ý nàng.
– Hãy nhảy đi! Nàng hãy nhảy vì ta! – Gió bắc hét to đến nỗi làm chuyển cả những cột nhà bằng
tuyết, nhưng Xnhedinca vẫn không hề động lòng.
– A ha! – Gió Bắc cuồng lên, chàng rút cái roi ở thắt lưng ra đoạn vung lên. – Này, chú em Gió Nam của ta, giờ thì ta không còn thương tiếc mảnh vườn táo khu vườn hồng nhà mi nữa nghe. Nội đêm nay ta sẽ tàn phá hết những khu vườn đó bằng chính hơi thở của ta; sáng mai, mi sẽ được bước lên những cành khô khốc và chỉ biết rơi những giọt lệ cay đắng mà thôi.
Tình yêu đã mách bảo Xnhedinca cách cứu lấy mạng sống của người tình. Khi Gió Bắc chưa kịp gom không khí vào lồng ngực thì Xnhedinca đã thấy gương mặt của Gió Nam đen xạm đi; nàng lập tức tháo tung những chăn gối lông chim của mình ra, và thế là chỉ trong nháy mắt, những khu vườn của Gió Nam đã được phủ một lớp thảm như tuyết trắng. Những bông hồng và những trái táo không còn biết sợ hơi thở của gió lạnh nữa.
Gió Bắc thất vọng, tính chuyện trả thù Xnhedinca. Chàng dùng roi quất nàng túi bụi, song nàng đã khôn khéo tránh được. Gió Bắc bèn ném roi đi và lao về phía Xnhedinca.
– Thế là đám cưới đã tàn! – chàng Gió Bắc gầm lên – Ta sẽ đưa nàng về nhà và giấu nàng vào căn hầm tối tăm nhất. Hãy để cho chuột, bọ gặm nhấm thân xác nàng, hỡi người vợ bướng bỉnh của ta.
Đến đây, tìn yêu lại mách bảo Gió Nam cách cứu lấy trái tim, mà đối với nàng là quý giá hơn tất cả mọi thứ trên đời. Cắp nàng vào ngực, Gió Nam biết giấu Xnhedinca đi đâu bây giờ? Chàng đành phải đặt nàng dưới gốc cây hoa hồng và dặn nàng hãy chờ đợi chàng quay lại sau khi chàng chiến thắng người anh trong trận đấu cực kỳ khó khăn này.
– Trước hết hãy hôn em đa, hỡi người tình duy nhất của đời em, em sẽ chờ đợi chàng, cho dù suốt cả cuộc đời.
Gió Nam ôm hôn Xnhedinca một cách êm ái và hôn thật lâu cho đến khi người nàng tan ra trong vòng tay ôm của chàng, cho đến khi nàng chỉ còn là những giọt sương rơi xuống đất và tan biến đi.
– Nàng ở đâu? Nàng trốn đâu rồi? – Gió bắc lao vào người em trai – Ta vừa trông thấy mi ôm hôn nàng như thế nào kia mà.
– Ôi anh trai của em, hà cớ gì ta cứ thù hằn nhau mãi, – Gió Nam buồn rầu đáp – Bây giờ nàng nằm ở kia kìa, như thể giọt sương, như giọt nước mắt đã tan biến vào đất.
– Ta không tin nàng và cả mi nữa – Gió Bắc nói, nghiến răng trèo trẹo – Để nàng không bao giờ còn đứng dậy được, ta sẽ dùng băng giá đè nàng xuống.
Gió Nam lúc nào cũng cứ quẩn quanh bên khu vườn hồng và vườn táo của mình. Cứ vào quãng cuối Đông hoặc đầu Xuân, Xnhedinca lại thấy có chàng ở bên cạnh, nàng dùng hơi thở sưởi ấm lớp băng bề mặt rồi ngước lên nhìn sâu vào cặp mắt bồ câu của người tình.
Và người đời cứ mỗi khi nhìn thấy một bông hoa trắng nhỏ xíu không hiểu sao lại mừng rơn và kể cho nhau nghe như kể về một sự kiện gì trọng đại lắm:
– Thấy không, trong vườn, Hoa Tuyết đã nở!

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Sự tích cái yên ngựa ( Truyện Dân Gian)

Ngày xưa có một vị quan tên là Hồ Lưu rất hung ác. Năm 62 tuổi, ông ta chết. Diêm vương lật sổ ra thấy tội trạng còn quá nặng nên bắt buộc ông ta đầu thai làm con ngựa. Ông Hồ Lưu (tức là con ngựa), lớn kên bị tên nài bạc đãi, thúc đầu gối vào hông, cỡi không cần yên. Hồ Lưu buồn bã quá, nhịn đói không ăn cỏ, ba bốn ngày sau thì chết.

Diêm vương nổi giận:

– Thằng này trốn tội! Phải đền tội cho đủ mới được trở về đây. Tự vận như thế là ăn gian!

Bèn cho Hồ Lưu hoá thai lần nữa, đầu thai thành con chó. Hồ Lưu tủi phận nhưng không dám tự vận như trước. Anh ta nghĩ ra một kế: “Mình cứ cắn ông chủ mình, ông chủ nổi quạu, sẽ đập mình chết”. Hồ Lưu thi hành như ý định. Chủ nhà ngỡ là chó điên nên đập chết. Diêm vương hay được, bèn sai quỷ sứ đánh vong hồn Hồ Lưu 50 hèo rồi phán:

– Mày phải đầu thai trở lại. Tội mày chưa trả hết mà mày đòi trốn hoài. Lần này, phải đầu thai trở lại làm con rắn.

Hồ Lưu liền bị nhốt trong ngục, bò tới bò lui. Sau rốt anh ta khoét hang vượt ngục. Biết rằng tự tử hay cắn người đều là trọng tội, anh ta bèn giả bộ bò ra ngoài, nằm giữa đường mà ngủ. Tình chờ một chiếc xe ngựa chạy qua, cán rắn đứt làm đôi.

Diêm vương phán:

– Bấy lâu nay mi cực khổ nhìêu quá rồi. Ta không nỡ hành tội nữa. Vậy thì mi đựơc phép đầu thai về dương thế để làm quan mà cai trị dân, lấy tên là Lưu Công.

Lưu Công lớn lên, học hành rất giỏi, đậu thủ khoa. Ông thường răn các người tuỳ thuộc, muốn cưỡi ngựa thì phải mang yên, mang nệm. Ý của ông là khuyên răn các người bên dưới nên tử tế đối với dân, đừng hà lạm quyền hành thúc ép mà đau khổ dân lành.

(Truyện cổ  tích Trung Quốc)

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Nàng công chúa chăn ngỗng ( Truyện Dân Gian)

Truyện cổ tích Nàng công chúa chăn ngỗng

Ngày xưa có một bà hoàng hậu tuổi đã cao. Đức vua chết đã lâu. Bà có một cô con gái rất xinh đẹp. Khi lớn lên, nàng được hứa hôn với một chàng Hoàng tử con vua một nước xa xôi.

Đến ngày tổ chức lễ cưới, nàng công chúa sửa soạn đi đến nước xa lạ. Mẹ nàng gói ghém cho nàng những vật quí giá: đồ trang sức, vàng, bạc, cốc, châu ngọc, tóm lại là tất cả những gì xứng đáng làm của hồi môn cho một công chúa, vì mẹ nàng rất mực thương nàng. Mẹ nàng gửi gắm nàng cho một thị nữ có nhiệm vụ dẫn nàng đi đến chỗ ở người chồng chưa cưới. Mỗi người cưỡi một con ngựa. Ngựa công chúa cưỡi tên là Phalađa, biết nói.

Đến lúc chia tay, bà hoàng vào trong phòng ngủ, lấy một con dao nhỏ trích ngón tay, để chảy ba giọt máu. Bà cho máu thấm xuống một cái khăn trắng nhỏ, đưa cho cô gái và dặn: “Con thân yêu, con hãy giữ gìn cẩn thận cái khăn này, nó sẽ có ích cho con trên đường đi”.

Hai mẹ con buồn bã từ biệt nhau. Công chúa áp cái khăn lên ngực, nhảy lên yên ngựa để đi đến nơi ở của người yêu. Sau khi đã đi một tiếng, cô cảm thấy khát khô họng, bèn bảo thị nữ:

– “Em hãy xuống ngựa, lấy cốc của ta múc nước suối kia và mang lại đây cho ta, ta khát nước lắm”.

– “Nếu cô khát, thị nữ trả lời, thì hãy tự nhảy xuống, rồi vươn người ra trên mặt nước mà uống. Tôi không phải là đầy tớ của cô”.

Công chúa khát lắm, bèn xuống ngựa, cúi xuống dòng nước suối để uống nước. Nàng không dám uống nước bằng cốc vàng. “Trời ơi!” nàng kêu to. Ba giọt máu bảo cô: “Nếu mẹ cô biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà sẽ tan nát trong ngực”.

Nhưng công chúa là người can đảm. Nàng không nói gì và lại nhảy lên ngựa. Ngựa phi được vài dặm. Trời thì nóng nực, chẳng mấy chốc nàng lại khát nước.

Tới một con sông, nàng bảo thị nữ: “Em hãy xuống ngựa và cho ta uống nước bằng cái cốc vàng”. Cô đã quên đứt những lời độc ác của thị nữ. Nhưng thị nữ lại trả lời ngạo mạn hơn: “Nếu cô khát thì tự đi uống nước một mình, tôi không phải là đầy tớ của cô”.

Công chúa khát quá, nhảy xuống ngựa, cúi xuống dòng nước chảy xiết, khóc và kêu lên: “Trời ơi!” Ba giọt máu liền đáp lại: “Nếu mẹ cô biết sự tình thế này, thì hẳn tim bà tan nát trong ngực”. Trong khi cô cúi xuống để uống thì cái khăn có thấm ba giọt máu, tuột khỏi ngực cô và trôi theo dòng nước mà cô không hay biết, vì lúc đó cô rất sợ hãi.

Thị nữ thì lại trông thấy hết và nó rất vui mừng từ giờ trở đi công chúa sẽ bị nó trả thù. Từ lúc đánh mất ba giọt máu, công chúa trở nên yếu đuối, không đủ sức tự vệ nữa. Khi nàng định trèo lên con ngựa Phalađa thì thị nữ bảo: “Tôi sẽ cưỡi con Phalađa, còn cô, cô hãy cưỡi con ngựa tồi của tôi”.

Công chúa đành làm như vậy. Tiếp đó thị nữ ra lệnh, lời lẽ gay gắt, bắt nàng phải cởi quần áo hoàng cung ra và mặc quần áo của nó vào. Cô lại phải thề với trời đất là khi đến cung điện sẽ không nói lộ ra. Nếu cô không chịu thề thì nó sẽ giết cô tại chỗ. Nhưng con Phalađa đã quan sát tất cả và ghi nhớ tất cả. Thị nữ cưỡi con Phalađa, còn công chúa thì cưỡi con ngựa tồi. Nó lại tiếp tục đi, cuối cùng đến lâu đài nhà vua. Ở đấy, mọi người rất vui mừng khi họ tới, và Hoàng tử vội chạy tới tận nơi đón họ, đỡ thị nữ xuống ngựa, vì tưởng rằng đó là vợ chưa cưới của mình. Thị nữ đi lên bậc thềm lâu đài, còn nàng công chúa thì phải đứng lại ngoài sân.

Vua cha nhìn ra, qua cửa sổ thấy nàng duyên dáng và tuyệt đẹp. Người vào trong cung hỏi cô gái được coi là vợ chưa cưới của Hoàng tử xem cô gái đứng ngoài sân là ai. “Tâu vua cha, con đã gặp cô gái đó trên đường đi và con đưa cô ta đi cùng để đỡ lẻ loi một mình. Xin vua cha cho cô ta làm việc để cô ta khỏi phải vô công rồi nghề”. Nhưng vua cha không có việc gì giao cho cô làm cả.

Người bảo: “Ở ngoài kia, ta có một anh chàng chăn ngỗng, hãy để cô ta giúp việc vậy”. Chàng trai tên là Cuốc. Vợ chưa cưới của Hoàng tử phải giúp anh chăn ngỗng.

Ít lâu sau, vợ chưa cưới giả tâu với hoàng tử: “Chàng thân yêu ơi, em muốn một điều, chàng hãy làm vui lòng em”. Hoàng tử nói: “Được thôi!” “Chàng hãy cho gọi người thợ lột da đến đập chết con ngựa em đang cưỡi đến đây, vì trong khi đi đường nó làm em bực tức”.

Thật ra thì nó sợ con ngựa kể lại cách nó đã đối xử với công chúa. Đến lúc con ngựa trung thành Phalađa phải chết thì công chúa được tin. Nàng hứa với người thợ lột da là sẽ bí mật biếu anh một đồng tiền bằng bạc nếu anh giúp nàng một việc nhỏ. Trong đô thị có một cái cổng to rất tối, hàng ngày, sớm tối nàng phải dẫn đàn ngỗng đi qua. Nàng xin người thợ lột da hãy đóng đanh treo đầu con Phalađa vào cái cổng ấy để nàng có thể luôn luôn trông thấy nó.

Người thợ lột da hứa sẽ làm và bác đóng chặt đanh treo đầu ngựa vào dưới cái cổng tối om. Sáng sớm, khi cùng Cuốc đi qua cổng, cô bảo cái đầu: “Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!” Cái đầu trả lời: “Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành”. Lặng lẽ, cô đi khỏi đô thị, dẫn đàn ngỗng ra cánh đồng.

Đến đồng cỏ, cô ngồi xuống và rũ tóc ra. Tóc cô óng ánh như vàng nguyên chất và Cuốc rất thích nhìn mớ tóc ấy lóe sáng. Anh muốn nhổ vài sợi tóc. Công chúa bèn nói: “Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ. Hãy cuốn cái mũ của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải và tết xong”. Tức thì gió thổi mạnh cuốn đi cái mũ của Cuốc. Anh ta chạy theo ngay. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong và anh không nhổ được sợi tóc nào. Anh rất bực và không nói năng gì với cô nữa.

Họ lại tiếp tục chăn ngỗng đến chiều, rồi cùng về nhà. Sáng sớm hôm sau, khi lùa ngỗng qua cổng, cô gái nói: “Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!”

Cái đầu trả lời: “Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này, tim mẹ sẽ vỡ tan tành”.

Đi ra khỏi đô thị, cô lại ngồi trên đồng cỏ và lại rũ tóc ra chải. Cuốc muốn nắm lấy mớ tóc. Cô vội vàng nói: “Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải và tết xong”. Gió nổi lên, cuốn cái mũ đi. Cuốc phải chạy theo. Khi anh trở về thì công chúa đã chải đầu xong từ lâu và anh không nắm được mớ tóc ấy. Và rồi hai người lại cùng chăn ngỗng đến chiều.

Nhưng chiều hôm ấy, về tới nhà, Cuốc đến gặp vua cha và tâu: “Kính thưa hoàng thượng, con không thể chăn ngỗng cùng cô gái này nữa” – “Tại sao vậy?”, vua hỏi. “Suốt ngày, cô ta làm con bực mình!” – Vua cha bảo anh kể lại sự việc đã xảy ra. Cuốc nói: “Buổi sáng, chúng con dẫn đàn ngỗng qua cái cổng tối om, ở đấy có một cái đầu ngựa treo trên tường. Cô ta nói với nó: “Ôi, Phalađa, mày bị treo ở đây ư!” Cái đầu trả lời: “Ôi! Nàng công chúa của tôi, nàng qua đây ư! Nếu mẹ nàng biết nông nỗi này tim mẹ sẽ vỡ tan tành.” Và Cuốc kể các sự việc đã xảy ra ở cánh đồng chăn ngỗng và tại sao anh ta lại phải chạy theo cái mũ. Vua cha dặn anh ta ngày hôm sau cứ đi chăn ngỗng như thường lệ.

Sáng sớm ngài thân chinh đến dưới cái cổng tối om và nghe được những câu cô gái nói với cái đầu Phalađa. Ông theo ra cánh đồng và nấp vào một bụi cây. Chính mắt ngài trông thấy anh thanh niên và cô gái lùa ngỗng thế nào và sau một lúc, cô gái ngồi xuống gỡ mớ tóc vàng lóe sáng. Rồi cô lại nói: “Ta khóc đây, ta khóc đây! Hỡi làn gió nhẹ, hãy cuốn cái mũ của Cuốc đi! Anh ta sẽ chạy theo cái mũ cho đến khi nào tóc ta chải và tết xong”. Một cơn gió thổi mạnh, cuốn cái mũ đội đầu của Cuốc đi. Anh phải chạy theo rất xa. Cô gái chăn ngỗng chải tóc và cuốn thành từng búp. Vua cha nhìn thấy tất cả. Không ai nhận ra ngài khi ngài rời khỏi đó.

Chiều đến, cô gái về nhà, ngài cho gọi cô đến và hỏi tại sao cô lại làm như thế. “Tâu bệ hạ, con không thể nói được”, – cô trả lời. – “Con không thể kể nỗi khổ của con với bất cứ ai trên thế gian này, con đã thề như vậy để khỏi bị người ta giết”. Vua cha cô ép cô nói, nhưng ngài không biết được gì thêm bèn nói: “Nếu con không muốn nói với ta, thì con hãy kể nỗi khổ của con với cái bếp lò này”. Rồi ông bỏ đi.

Cô đến ngồi gần cái bếp lò, than khóc, thổ lộ tâm can: “Ta ngồi đây, bị cả thế gian ruồng bỏ, dù ta là con vua. Một tên thị nữ độc ác đã áp chế ta, bắt ta đổi cho nó quần áo hoàng cung. Nó thay thế ta để làm vợ chưa cưới của người yêu ta, và ta bắt buộc phải làm công việc bình thường của người chăn ngỗng. Nếu mẹ ta biết nông nỗi này, tim bà sẽ tan nát”.

Vua cha đứng ở phía tường bên kia gần ống thông hơi, ngài đã nghe thấy hết. Ngài trở về và gọi cô hãy rời cái lò đến gặp ngài. Người ta mang đến cho cô quần áo hoàng cung, cô mặc vào đẹp như là có phép lạ. Vua cha cho gọi con trai đến và bảo cho con biết về cô vợ chưa cưới giả mạo. Cô người yêu thật đứng trước chàng, đấy là cô gái chăn ngỗng.

Hoàng tử thấy cô rất đẹp và phúc hậu nên lòng tràn ngập niềm vui. Một bữa tiệc được sửa soạn để mời tất cả các bạn bè thân thuộc. Hoàng tử và công chúa ngồi ở đầu bàn, trước mặt họ là con thị nữ. Nó bị choáng ngợp và không nhận ra cô chủ trang sức lộng lẫy. Khi họ đang ăn uống vui vẻ, vua cha ra một câu đố cho thị nữ. Nó phải trả lời là một người đàn bà lừa dối chủ thì sẽ bị xử tội như thế nào. Ngài kể các sự việc đã xảy ra và hỏi nó: “Như thế sẽ xứng đáng với hình phạt gì”. – “Nó xứng đáng phải đuổi đi khỏi đất nước” – “Kẻ ấy chính là mày, mày sẽ bị xử tội như mày nói”. Sau khi hình phạt được thi hành, Hoàng tử cưới nàng công chúa làm vợ và họ trị vì đất nước trong hòa bình và hạnh phúc.

Nguồn: Truyện cổ tích Grimm

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Cô bé quàng khăn đỏ ( Truyện Dân Gian)

Ngày xửa, ngày xưa, có một cô bé thường hay quàng chiếc khăn màu đỏ, vì vậy, mọi người gọi cô là cô bé quàng khăn đỏ. Một hôm, mẹ cô bảo cô mang bánh sang biếu bà ngoại. Trước khi đi, mẹ cô dặn:

– Con đi thì đi đường thẳng, đừng đi đường vòng qua rừng mà chó sói ăn thịt con đấy. Trên đường đi, cô thấy đường vòng qua rừng có nhiều hoa, nhiều bướm, không nghe lời mẹ dặn, cô tung tăng đi theo đường đó. Đi được một quãng thì gặp Sóc, Sóc nhắc:

– Cô bé quàng khăn đỏ ơi, lúc nãy tôi nghe mẹ cô dặn đi đường thẳng, đừng đi đường vòng cơ mà. Sao cô lại đi đường này?

Cô bé không trả lời Sóc. Cô cứ đi theo đường vòng qua rừng. Vừa đi, cô vừa hái hoa, bắt bướm. Vào đến cửa rừng thì cô gặp chó sói. Con chó sói rất to đến trước mặt cô. Nó cất giọng ồm ồm hỏi:

– Này, cô bé đi đâu thế?

Nghe chó sói hỏi, cô bé quàng khăn đỏ sợ lắm, nhưng cũng đành bạo dạn trả lời:

– Tôi đi sang nhà bà ngoại tôi.

Nghe cô bé nói đi sang bà ngoại, chó sói nghĩ bụng: À, thì ra nó lại còn có bà ngoại nữa, thế thì mình phải ăn thịt cả hai bà cháu. Nghĩ vậy nên chó sói lại hỏi:

– Nhà bà ngoại cô ở đâu?

– Ở bên kia khu rừng. Cái nhà có ống khói đấy, cứ đẩy cửa là vào được ngay.

Nghe xong, chó sói bỏ cô bé quàng khăn đỏ ở đấy rồi chạy một mạch đến nhà bà ngoại cô bé. Nó đẩy cửa vào vồ lấy bà cụ rồi nuốt chửng ngay vào bụng. Xong xuôi, nó lên giường nằm đắp chăn giả là bà ngoại ốm.

Lúc cô bé quàng khăn đỏ đến, cô thấy chó sói đắp chăn nằm trên giường, cô tưởng “bà ngoại” bị ốm thật, cô hỏi:

– Bà ơi! Bà ốm đã lâu chưa?

Sói không đáp giả vờ rên hừ… hừ…

– Bà ơi, mẹ cháu bảo mang bánh sang biếu bà.

– Thế à, thế thì bà cám ơn cháu và mẹ cháu. Cháu ngoan quá. Cháu lại đây với bà.

Cô bé quàng khăn đỏ chạy ngay đến cạnh giường, nhưng cô ngạc nhiên lùi lại hỏi;

– Bà ơi! Sao hôm nay tai bà dài thế?

– Tai bà dài để bà nghe cháu nói được rõ hơn. Chó sói đáp

– Thế còn mắt bà, sao hôm nay mắt bà to thế?

– Mắt bà to để bà nhìn cháu được rõ hơn.

Chưa tin, cô bé quàng khăn đỏ lại hỏi:

– Thế còn mồm bà, sao hôm nay mồm bà to thế?

– Mồm bà to để bà ăn thịt cháu đấy.

Sói nói xong liền nhảy ra khỏi giường, nuốt chửng em bé Khăn Đỏ đáng thương.

Sói đã no nê lại nằm xuống giường ngủ ngáy o o. May sao, lúc đó bác thợ săn đi ngang thấy thế. Bác giơ súng lên định bắn. Nhưng bác chợt nghĩ ra là chắc sói đã ăn thịt bà lão, và tuy vậy vẫn còn có cơ cứu bà. Bác nghĩ không nên bắn mà nên lấy kéo rạch bụng con sói đang ngủ ra. Vừa rạch được vài mũi thì thấy chiếc khăn quàng đỏ chóe, rạch được vài mũi nữa thì cô bé nhảy ra kêu:

– Trời ơi! Cháu sợ quá! Trong bụng sói, tối đen như mực. Bà lão cũng còn sống chui ra, thở hổn hển. Khăn đỏ vội đi nhặt đá to nhét đầy bụng sói. Sói tỉnh giấc muốn nhảy lên, nhưng đá nặng quá, nó ngã khuỵu xuống, lăn ra chết.

Từ dạo ấy, cô bé quàng khăn đỏ không bao giờ dám làm sai lời mẹ dặn.

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Truyện: Cái giá của sự thông thái ( Truyện cổ tích Việt Nam)

Rất lâu rồi, có một nhà vua muốn hiểu biết thật nhiều nhưng lại lười. Một ngày nọ nhà vua triệu tập tất cả những nhà thông thái của vương quốc lại và ra lệnh cho họ phải thu thập tất cả những hiểu biết và sự thông thái trên thế gian đặt vào một chỗ để ông ta có thể học chúng.

Theo lệnh nhà vua, các nhà thông thái đều làm việc cật lực. Sau hơn một năm, họ dâng lên ngài một trăm cuốn sách chứa đựng mọi sự hiểu biết ở đời. Nhưng khi nhìn qua các chồng sách, nhà vua ngán ngẩm nói:

– Không! Ta cần một cách dễ dàng hơn. Biết bao giờ ta mới đọc xong và nhớ được ngần này cuốn sách.

Rồi nhà vua lệnh cho họ phải tóm lược hàng trăm cuốn sách đó vào một cuốn mà thôi. Một năm sau, các nhà thông thái quay lại với một cuốn sách duy nhất. Cuốn sách to và dày cả ngàn trang. Nhà vua nhìn thấy liền la lên:

– Không! Cuốn sách này dày quá! Ta sẽ mất rất nhiều thời gian mới đọc hết được.

Một lần nữa, các nhà thông thái bị buộc phải tóm lược thật súc tích cuốn sách ấy vào chỉ một trang giấy để nhà vua dễ dàng mang theo và nhớ được.

Mọi người xôn xao và than trời: “Sao có thể làm được như vậy?”. Nhưng họ không có sự lựa chọn nào khác cả. Họ biết hoặc là mệnh lệnh phải được thi hành, hoặc là đầu họ sẽ rơi. Nhà thông thái lớn tuổi nhất họp tất cả mọi người lại để tìm ra cách giải quyết. Cuộc hội ý diễn ra trong nhiều đêm liền. Cuối cùng, họ đã hoàn thành trang giấy chứa đựng mọi sự hiểu biết trên đời.

Được tin, nhà vua rất đỗi vui mừng. “Cuối cùng thì ta cũng sắp biết được tất cả mọi sự khôn ngoan nhất trên đời mà chỉ cần một trang giấy mà thôi!” – Nhà vua đắc chí nhủ thầm và ra lệnh dâng trang giấy lên trong thời gian sớm nhất.

Và ngày đó đã tới. Nhà vua khấp khởi mừng thầm. Cả vương quốc đều tụ tập về quanh triều đình để được biết về điều đặc biệt đó. Nhà vua háo hức mở trang giấy chứa đựng toàn bộ sự thông thái của thế gian. Trong đó chỉ duy nhất một câu: “Không có sự thông thái nào mà không phải trả giá”.

Nguồn: Tổng hợp

#Truyendangian #Truyencotichvietnam #Truyencotichthegioi #Truyenkechobe

Truyện Hay Khuyến Mãi

Đám cưới chuột

Đây là một chú chuột nhắt. Một chú Chuột Nhắt còn trẻ. Tuy vậy, cứ thực sự thì diện mạo của chú cũng chẳng có vẻ mĩ miều gì mấy. Đó là tôi còn nể Chuột Nhắt mà giới thiệu với bạn đọc thế, chứ thẳng thừng ra nhiều họ Chuột khác thường thốt ra những giọng có ý khinh bỉ cười cợt Chuột Nhắt lắm.

– Nó bẩn như cú

– Ở cổ nó có ba cái sẹo to.– Thằng cha thưa râu ghê! Mà cái râu nào cũng gãy nửa, tại sao nhỉ?

– Đuôi nó chỉ cụt một mẩu!

– Thưa ngài, tính thằng cha Chuột Nhắt gian. Cứ trông cái mắt lấm lét của nó thì đủ hiểu.

– Lại còn phải nói!

– Đấy con ơi! Thiên hạ người ta phẩm bình thế đấy, ra đường đừng có chơi bời gì với Chuột Nhắt. Thấy nó đâu thì tránh xa ra nhé.

Nhưng mồm miệng thiên hạ dông dài, thì chẳng đủ tin. Bởi vì, trong đời, có những cái miệng xấu, miệng tốt, miệng nói hay, miệng nói dở. Nhiều thứ miệng lắm và tạp nham lắm. Đừng ai vội ghét Chuột Nhắt. Đừng ai nói xấu thêm cho chú ta. Mà cũng đừng bà chuột mẹ nào cấm con cái chơi với Chuột Nhắt vội. Phải xét tận nơi, nhìn tận mặt mới nên buông lời. Một lời vô ý, trong lúc vui miệng bông lơn, có khi làm hại cho kẻ khác nhiều, lời nói đọi máu mà. Bởi vậy, chẳng nên hấp tấp mà bỉ mặt chú Chuột Nhắt, theo những lời chê bai trên kia. Vậy thì chú Chuột Nhắt có xấu người, xấu nết như lời đồn đại chăng?

Cứ sự thực, dưới mắt hàng xóm, và dưới cả mắt tôi nữa, mặt mũi chú ta cũng không đáng diện với ai mấy. Cái thân mình chú dài không được bằng một ngón tay. Bốn chân như bốn cái tăm lũn cũn. Chiếc mõm nhọn hoắt, hai hàng râu cứng tủa sang hai bên. Đôi mắt chú nhỏ, nhưng lồi ra. Hấp háy, chớp chớp, nháy lia nháy lịa. Bởi vậy, người ta đổ cho chú có tính gian. Nhưng thực oan uổng cho Chuột Nhắt. Chú không có những cái tật xấu bị gán vu vơ. Chú vốn xấu mã, thì thiên hạ lại cho luôn là chú xấu cả nết nữa. Bậy quá! Chú cũng không xấu nết. Bởi vì chú đương là một anh học trò. Một học trò thì không bao giờ được có một vết xấu. Chú Chuột Nhắt cũng biết ăn lời thầy học. Có thể nói rằng: chú là một học trò tốt. Từ khi mới lọt lòng, Thử ông và Thử bà chỉ để Chuột Nhắt ở nhà có ít lâu, rồi ông bà gửi chú đi trọ học ở miền xa, cách nhà những vài ba cánh đồng lớn.

Quả cau nho nhỏ

Cái vỏ vân vân

Nay anh học gần,

Mai anh học xa

Chuột Nhắt chịu khó học hành lắm. Âu cũng là một tính chăm học tự nhiên. Bởi vì bé thì bao giờ cũng phải học, việc học cần như Chuột cần phải ăn thóc vậy. Chuột Nhắt ta đã ăn và học ngay tại nhà thầy đồ. Hết lớp nọ lên lớp kia. Chú cố công dùi mài. Bởi vì chỉ còn ngót một năm nữa thì chú đã phải đi thi. Ở quê nhà, vợ chồng ông Thử khấp khởi mừng thầm.

Quả cau nho nhỏ

Cái vỏ vân vân

Nay anh học gần,

Mai anh học xa

Tiền gạo thì của mẹ cha…

Tiền gạo thì của mẹ cha tải đi cho con ăn, con học. Bao nhiêu là công lao! Chuột Nhắt nhấm một hạt thóc, nhớ đến nỗi khó nhọc của bố mẹ cần cù chạy kiếm từng hạt thóc vàng rụng trong mùa đông cóng lạnh, chú càng chăm chỉ sách đèn. Thấm thoát chẳng bao lâu đã tới khoa thi ấy. Hơn ba trăm học trò của các tỉnh trong xứ về thi. Hơn ba trăm sĩ tử trải qua một vòng loại, giẫm vỏ chuối mất quá nửa, cũng là học tài thi phận. Tới ngày yết bảng, thế mà tên chú Chuột Nhắt đứng vào hàng thứ ba. Tiếng đồn Chuột Nhắt thần động vang dậy từ cánh đồng này qua cánh đồng khác. Ai cũng trầm trồ khen ngợi. Và, chao ôi, nhiều kẻ ngày trước dè bỉu, nói xấu, bây giờ lại lật lưỡi tâng bốc, lại lấy Chuột Nhắt ra làm gương cho con cái trong nhà.

– Trông Chuột Nhắt mới nho nhã làm sao

– Chú Chuột Nhắt học giỏi, mặt mũi thật sáng sủa.

– Râu chú ấy dài, đôi mắt tinh anh, vẻ thông minh lạ.

– Thưa ngài, tính nết của chú Chuột Nhắt tốt. Cứ nhìn nét mặt hiền từ nho nhã của chú Chuột Nhắt ấy thì đủ hiểu.

– Lại còn phải nói! Lanh lợi nhất trần gian này là chú Chuột Nhắt.

– Đấy con ơi! Liệu làm sao mà bắt chước. Nên tìm những bạn tốt như Chuột Nhắt mà chơi.

Thôi thì, ai cũng khen Chuột Nhắt đủ điều. Ở quê nhà, nghe tin con thi đỗ, Thử ông và Thử bà sướng phổng lỗ mũi. Hàng xóm kéo đến hỏi thăm rộn rịp đầy hang. Bắt đầu, những người hay nịnh, đã gọi Thử ông, Thử bà là “hai cụ cố sinh ra cậu cử tân khoa”. Thử ông hếch râu, nghiêng cái tai nhọn nghe khoái lỗ nhĩ lắm. Họ tán tụng:

– Thưa hai cố, nhờ cậu cử mà làng xóm ta từ nay nên danh diện!

– Cả vùng này chứ lị! Bác thử xem vùng ta, xưa nay đã ai đi học mà đỗ cao được bằng cậu cử nhà hai cụ cố đây chưa?

– Vẻ vang lắm!

– Nên mở một bữa khao thật to!

– Bác nói sai rồi! Phải vinh quy bái tổ rồi mới khao vọng chứ. Xóm làng ta đây, từ thuở khai thiên lập địa đến nay, giờ mới được một chuyện danh tiếng lẫy lừng. Sao lại không làm cho thiên hạ rõ mặt tường tên?

– Bác bàn phải quá. Bẩm hai cụ cố, cho thiên hạ trông vào.

– Công trời bể hai cố to lắm.

Thử ông lim dim đôi mắt, gật gù:

– Phải, phải. Thế nào cũng rước vinh quy cho cậu cử nó. Nên lắm !

Bà mủm mỉm đáp:

– Phải, nên lắm.

Mọi người đồng thanh:

– Nên lắm!

– Nên lắm!

Thế là Thử ông và Thử bà quyết định lo đám rước vinh quy cậu cử Chuột Nhắt. Ông bà cho tin sang bên kia cánh đồng rằng cậu cử cứ hãy hoãn ngày về. Đợi để dân làng sang đón rước cho tỏ mặt với đời. Được tin ấy, Chuột Nhắt ta mừng hí hửng. Chú mừng và sướng chẳng khác lúc đứng nghe gọi loa xướng danh đến tên mình trúng tuyển. Nghe tin cha mẹ sẽ cho dân làng sang rước mình về, trong đầu Chuột Nhắt đã tưởng tượng ngay đến cái kiệu sơn son thếp vàng rực rỡ, mấy tay đô tuỳ xúm xít khiêng tân khoa. Chuột Nhắt ngồi bệ vệ, hai chân trước vắt xuống đùi gối hai chân sau, mắt làm vẻ nghiêm nhưng thực ra thì nhìn ngang nhìn dọc. Bên vệ lối đi, biết bao nhiêu bà con đứng xem, đứng đón. Tưng bừng quá! Chú Chuột Nhắt liền sắm sửa quần áo hòm xiểng nhong nhóng đợi ngày cha mẹ và làng xóm rước về.

Bấy giờ, có một lão mèo đương xưng hùng xưng bá ở đất này. Các lão Mèo ở nơi nào cũng thế, đi đến đâu là sinh ra lắm chuyện rắc rối đến đấy. Lí lịch gốc gác của lão Mèo ra sao không mấy ai rõ. Chỉ nghe truyền khẩu lờ mờ rằng xưa kia Mèo vốn được nuôi nấng ở trong nhà, chung đụng với bọn Chó Đen, Chó Vàng. Nhưng vì Mèo vốn tính khoảnh ác, chơi với ai cũng giở thói phản bạn nên ai cũng ghét. Đến khi tất cả xung quanh, từ người chủ nhà trở xuống cho đến thằng chó con mới mở mắt ai cũng ghét và xa lánh thì biết mình khó lòng còn ở lại trong nhà được nữa, Mèo ra đồng ở, thành Mèo hoang. Người ta hay nói Mèo già hoá Cáo là như vậy. Mèo ở nhà, tìm đến cánh đồng họ nhà Chuột. Chuột sợ Mèo, là một sự dĩ nhiên. Nhưng thường cũng có thứ Mèo lành hiền. Riêng lão Mèo này thì ác quá. Càng bắt nạt được ai, lão càng bóp cổ tợn… Ai ai cũng oán ghét. Ai cũng đem lòng thù. Mèo cũng biết, song lão thấy người ta tức, lão càng hoạnh hoẹ làm ác tợn. Có những ông đồ Chuột thâm nho đã đặt ra những câu hát châm chọc, cho trẻ hát để trêu tức lão:

Con Mèo mày trèo cây cau

Hỏi thăm chú Chuột đi đâu vắng nhà

Chú Chuột đi chợ đồng xa

Mua mắm mua muối giỗ cha cái thằng Mèo!

Mèo thường nghe tiếng hát văng vẳng trong những bờ cây khuất nẻo. Song lão không biết đích xác được ở đâu. Lão chỉ hầm hè ngồi gầm gừ suông. Khi lão Mèo hung tợn kia nghe tin vợ chồng Thử ông sắp rước vinh quy cho con trai thì lão khấp khởi mừng thầm. Lão chắc mẩm sắp được một món bổng to. Thế nào nhà Chuột chẳng phải lễ lạt đút lót hậu hĩnh. Không có thì lão sẽ phá. Lão Mèo xăm xăm đi đến cửa hang nhà Chuột. Bấy giờ trong hang, cả nhà Chuột đang ăn uống và om sòm, bàn bạc định ngày sang rước cậu cử Chuột Nhắt. Mèo ta cất giọng “meo” lên một tiếng rõ to như tiếng tù và rúc. Trong suốt hang im thin thít ngay. Rồi thì mấy cái râu, cái lỗ mũi thò ra, lại thụt vào ngay. Mèo quát:

– Có đứa nào trong nhà không?

Một tiếng run run đáp:

– Thưa có.

Thử ông mon men ra đứng nép vào khe cửa hang, nói vọng ra:

– Ngài hỏi chúng tôi có việc chi?

Mèo trừng mắt:

– Lại còn việc gì nữa? Việc gì thì cả tổ bay đã biết đấy!

– Bẩm không biết ạ!

– Không à? Ông lại phá cả nhà bây giờ. Muốn bị cắt lưỡi, phỏng?

– À, biết rồi, tôi cho cháu nó về bái tổ. Tôi bảo để đến chiều sẽ sang báo tin mừng với ngài.

– Đủ cả đấy chứ?

– Vâng, báo tin và xin biện đủ. Rước ngài cứ về, chốc nữa chúng tôi sang.

Chiều hôm ấy, nhà Chuột đem lễ vật thịnh soạn sang dâng ông Mèo. Có thế ông mới để cho đám rước được yên ổn. Đám đi dâng lễ ông Mèo cũng trịnh trọng như một đám rước, có tranh vẽ để lại đời sau ai cũng biết đấy. Một anh Chuột đi đầu, thổi kèn. Một anh đeo cái trống cà rùng. Vừa bước đi, chốc chốc lại múa hai tay lên mà gõ trống nhịp nhàng. Một anh nữa xách khệ nệ hai con cá săn sắt lớn (mà người xem tranh nhầm là cá chép). Rồi mới đến một ông đứng tuổi, ria mép dài ngạnh trê, mặc áo the thâm, quần lụa điều đi sau cùng. Cái đám rước ấy vào đến hang Mèo thì lão này đương khề khà uống rượu. Lão nhận hai con cá săn sắt và nhắm luôn. Lũ Chuột cúi rạp, cúp cả tai xuống mà lạy tạ rồi lui ra ngay. Ra tới cửa, anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng chạy mau như sợ lão Mèo đuổi theo, chộp lấy, chén thịt. Thế là xong việc dâng đồ lễ ông Mèo. Một ngày tốt lành kia, cả tổng Chuột nhộn lên vì sự tấp nập đi rước cậu cử tân khoa Chuột Nhắt. Đã quá trưa thì đám rước về tới đầu cánh đồng. Trước hết, một chú Chuột mặc áo nẹp đỏ thổi loa te te. Đến hai lá cờ kì lớn, trên lá cờ nào cũng viết hai chữ “Thái Bình”. Mấy cái biển sơn son thếp vàng, vác ngổn ngang. Những chữ “Vinh Quy” vàng chói khắc lên gỗ. Lại có hai chú Chuột khiêng một chiếc trống cái. Trống nặng quá, to phè phè, mỗi khi anh Chuột đi bên cạnh múa chiếc dùi lên, nện xuống một dùi, hai chú Chuột phu khiêng lại loạng choạng hai chân chực ngã xiêu đi. Tất cả đám rước, Chuột nào cũng mặc áo the thâm, thắt lưng điều bỏ giọt, chân đi đất, mặc quần lụa nâu. Anh nào cũng chít khăn kín cái đầu dài ngoẵng, lòi đôi tai lên trên. Có anh trai kiểu chơi chua, lại đội vênh vang chiếc nón dứa mới. Trong cái mõm nhọn, chuột chúm chím nhai trầu. Chấm hết cho đám rước, một lũ chừng mười lăm phu chuột xúm xít khiêng một cái kiệu. Ở trong kiệu, chú tân khoa Chuột Nhắt ngồi chõm choẹ. Cái điệu chú oai ghê. Đầu chú đội chiếc mũ xanh, có hai cánh chuồn. Mình chú mặc áo thụng lam. Chú ngồi vắt chân chữ ngũ. Một tay cầm cái quạt tàu phe phẩy. Một tay cầm điếu thuốc lá quấn. Chốc chốc, lại đưa lên miệng, hút phập phèo. Đôi mắt chú lúng liếng liếc sang hai bên đường, ra vẻ ta đây. Mà hai bên đường thì chật ních những họ hàng nhà Chuột đứng xem.

– Te te te… Ai đi đường thì tránh ra cho quan cử vinh quy bái tổ…

– Tùng… Bi li… Bi li… Tùng…

Đám rước trịnh trọng, trang nghiêm. Mỗi bước dịch về gần trong xóm lại đi chậm thêm và làng xóm ở các hang ổ xa càng đổ đông ra xem. Đông quá. Thật lòng chú Chuột Nhắt chỉ thích được như vậy. Lát nữa, về đến đầu xóm, thể nào cũng có hương án bày bái vọng và tất nhiên là Thử ông và Thử bà đã đi võng ra đón con. Chú Chuột Nhắt thầm cảm ơn trời đã có một ngày nắng ráo và mát mẻ quá như hôm nay. Ai cũng lũ lượt kéo đi xem đám vinh quy của quan cử tân khoa. Đám rước trịnh trọng,trang nghiêm.

Qua gần hết cánh đồng. Bỗng văng vẳng có tiếng ầm ĩ từ xa đi tới. Vang như tiếng trống, tiếng cồng, tiếng sấm. Nhưng lạ tai quá:

– Meo! Meo! Meo!

Ôi chao! Tiếng lão Mèo quát. Những đám đông đứng xem, rú lên chạy tán loạn.

– Meo! Meo! Meo!

Anh vác loa cút trước nhất. Mấy thằng cầm cờ cũng quẳng cờ mà chạy. Và có mấy tên rước biển “Vinh Quy” đều ù té chuồn. Chỉ có anh đánh trống thì vẫn mải mê đánh trống thòm thòm, không ngẩng đầu lên, cũng không nghe thấy gì.

– Meo! Meo! Meo!

Đến bấy giờ bọn đánh trống mới nghe thấy những tiếng khủng khiếp rền tai. Anh nào anh nấy ba chân bốn cẳng, hoảng hốt chạy thẳng một mạch. Và cái bọn khiêng kiệu cũng không còn hồn vía nào đứng lại nữa. Những tiếng quái ác ghê gớm kia là tiếng báo hiệu Thần Chết đương đi đến đây rồi. Thần Chết đã tới sau lưng. Ai mà còn hồn vía nào! Chúng buông phịch kiệu xuống, rùng rùng đi tìm hang lỗ trú ẩn. Chiếc kiệu bị buông mạnh, lật nghiêng và đổ khuỵu. Chú Chuột Nhắt đương đắc chí rung đùi, bị ngã chổng vó, không dậy được. Tất cả đám rước linh đình, trong phút chốc tan biến, không còn bóng vía gã Chuột nào. Bấy giờ người ta mới thấy lão Mèo lù lù từ phía Tây đi đến. Lão vừa đi lừ lừ, vừa kêu: “Meo! Meo!”. Thực vô tình mà lão cất tiếng ông ổng. Và đấy là lão hát chứ không phải lão kêu, lão hò hét chửi bới. Phải, vừa uống rượu xong, vui thì lão hát chơi. Lão cũng định ra xem đám rước vinh quy, nên lão vui trong bụng lão hát lên mấy câu cho vui đấy thôi.

– Meo! Meo! Meo!

Lão hát thế thì chết! Có ai, có chú chuột nào lại hiểu được rằng “meo, meo, meo” là một điệu hát bình thường của lão Mèo. Những con chuột chỉ nghĩ rằng Mèo đương đói, đương gào thịt ăn. Đám rước mới tan tác mất. Khi lão Mèo ra tới đường cái, thấy đường cái vắng tanh, chẳng còn một bóng chuột nào. Cờ quạt ngổn ngang, lổng chổng. Lão ngạc nhiên nói một mình:

– Quái, ta có làm gì đứa nào đâu, mà chúng nó sợ?

Lão lại hát “meo, meo”. Lão không biết rằng hò bổng lên như thế mà nhà Chuột đã đủ khiếp mà chạy xa thêm. Tức mình lão bần thần bỏ đi ra chơi mát ngoài đồng. Mãi cho đến xế trưa, mới có mấy anh Chuột mon men, nhớn nhác, từ trong xóm bò ra. Rồi thì một đám nữa nối đuôi nhau đi đến. Và họ hàng lại lặng lẽ rồi rộn ràng đi làm đám rước. Ai vào việc nấy Lại loa. Lại cờ. Lại biển. Lại trống cái và trống cà rùng. Nhưng đến khi xúm vào dựng kiệu lên thì thấy cậu cử tân khoa méo mó, nhăn nhó mặt mõm, cho đến lúc ấy vẫn không thể ngồi dậy được. Bởi vì lúc cái kiệu đổ, chú sái một khớp xương chân, ngoẹo hẳn đi, không thể ngồi và đi được. Đám rước, thế là chú đành nằm trong kiệu cho khiêng về nhà. Mất vui. Chẳng ai đi xem, và giá có đi xem, cũng chẳng nhìn thấy cậu cử tân khoa đâu nữa. Cậu cử tân khoa đau quá, không ngồi được, đã nằm phủ phục xuống sàn kiệu. Cái mộng được đi diễu qua làng xóm cho thiên hạ biết mặt tân khoa chú Chuột Nhắt bị sụp vỡ. Chỉ vì mấy tiếng hát vu vơ của lão Mèo phởn chí. Thử ông và Thử bà cũng cụt mất hứng. Nhưng dẫu sao, cũng là xong cuộc rước vinh quy Chuột Nhắt. Thử ông Thử bà dần dần cũng lấy lại hả hê, mà chẳng dám oán trách ông Mèo. Bởi oán ông thì chỉ thiệt thân mà thôi! Chỉ hận một nỗi từ ngày ấy, cái chân sai khớp của cậu Chuột Nhắt, chữa thế nào cũng không khỏi. Chuột Nhắt thành tật, một chân sau bước thậm thọt. Thử ông sợ cái tiếng con mình thọt chân, nên đút tiền cho những đứa khênh kiệu hôm vinh quy để chúng khỏi đi nói cho ai biết.

Ông bà Thử có ý muốn giấu giếm cho con mình cái tật nọ. Là vì ông bà nghĩ: Chuột Nhắt đã lớn. Học đã thành tài. Nhưng còn thiếu một chút vợ con trong nhà. Cưới vợ cho chú ấy là mãn nguyện hai vợ chồng già. Nhà con một, lại khá giả, tất nhiên đường vợ con phải kén chọn kĩ. Những cô Chuột Nhắt loàng xoàng thì không có thể đáng mặt lấy về cho chú cử Chuột này được. Ông bà Thử băn khoăn về chỗ đó. Đại đăng khoa rồi tiểu đăng khoa thì vừa. Vả lại, họ hàng bà con cũng thúc giục ông nên lấy vợ cho cậu Chuột Nhắt. Đó là những mồm miệng quanh năm chỉ hong hóng muốn ăn cỗ. Được ăn cỗ là họ thích. Họ cứ xúi khôn xui khéo ông bà Thử:

– Hai cố xem có đám nào kén về cho cậu cử!

– Có vợ con thì mới chững chạc được!

– Hai cố xem mặt cái đám xóm kia, có ưng không?

– Không được, đám ấy đăng đối sao được với nhà này! Thuở ấy, một ông viên ngoại nhà ở hang ngoài bờ sông, có cô con gái kén chồng. Cô gái treo biển kén chồng đã hơn một năm nay. Cũng đã nhiều vương tôn công tử rắp ranh bắn sẻ, nhưng chưa ai được trúng cách. Bởi vì ông viên ngoại là một tay thâm nho. Và cô tiểu thư là một thiếu nữ có đôi chút nhan sắc, xa gần nức tiếng. Đó là cô tiểu thư Chuột Chù. Tiểu thư Chuột Chù đẹp – cô tự nghĩ thế. Lại càng làm dáng tợn. Bước đi yểu điệu. Mõm to và dài. Áo cô đen xù lúc nào cũng thơm lừng mùi nước hoa. Nhưng thiên hạ độc miệng lại đặt cho câu tục ngữ ác nghiệt: Hôi như chuột chù. Thoạt gặp, cứ tưởng rằng cô tốt nết. Nhưng thực cô có một tính xấu. Tính cô khinh khỉnh. Từ khi ông viên ngoại yết bảng ra cửa, đề bài thơ rằng: “Nhà ta có gái kén chồng. Xuân xanh xấp xỉ độ chừng đôi mươi” thì hai bố con ông đã làm bẽ mặt nhiều gã chuột đến dạm hỏi lắm. Thực ra, trong đám đó cũng nhiều người vô tài. Song, cậy mình có tài mà làm xấu hổ kẻ khác thì cũng chẳng nên.

Một hôm kia, Thử ông gọi Chuột Nhắt đến mà bảo rằng:

– Con ơi! Con đã lớn. Học con đã thành danh, không kém cạnh gì ở đời. Nay cha chỉ còn mong muốn lo vợ cho con. Con bằng lòng chăng?

Chuột Nhắt thích tê người, nhưng còn làm bộ lưỡng lự:

– Cái đó tuỳ cha.

– Cha đã nghĩ kĩ. Cứ xem như quanh vùng này thì không có mặt nào đáng. Cha thấy có tiếng đồn ở bên sông có ông viên ngoại kén chồng cho con gái. Để mai cha thử sang chơi.

Chuột Nhắt cười:

– Thưa cha, con đã nói tuỳ ở ý cha mà.

Biết thế là con đã bằng lòng, hôm sau, Thử ông ăn diện tề chỉnh, diện giày gia định và cầm cả ô che nắng, đi sang nhà viên ngoại nọ. Đến chiều, ông trở về. Hơi rượu sực nức. Ông viên ngoại đã thết ông cơm rượu linh đình. Ông Thử kể chuyện cho con trai và Thử bà nghe:

– Ta nói đến con thì viên ngoại bằng lòng lắm, viên ngoại đã biết tiếng. Nhưng ông ấy muốn mời con sang chơi để ông được thử tài.

– Ngày mai con sang.

Ngày mai, Chuột Nhắt sang chơi nhà viên ngoại. Chú đi cùng với hai tiểu đồng Chuột. Đêm hôm qua, đã giở bao nhiêu pho sách để xem lại. Nhưng có điều rắc rối là chẳng hay Chuột Nhắt sẽ đi đứng thế nào. Bởi vì một chân sau của chú bị khập khiễng. Không hề chi. Chuột Nhắt sẽ cưỡi một con ngựa bạch. Quần lụa điều sẽ buông xuống lấp kín gót chân. Lúc xuống ngựa, hai tiểu đồng xách nách hai bên, ra lối kiểu cách đại công tử của những nhà phú gia. Chẳng ai có thể biết được công tử Chuột Nhắt thọt hay không thọt. Chuột Nhắt sang đến nơi, viên ngoại tiếp đón niềm nở lắm. Tiểu thư Chuột Chù nhòm trong rèm ra cũng lấy làm vừa lòng. Rồi viên ngoại ra cho Chuột Nhắt một câu đố. Đó, là cái lệ chung cho tất cả những ai ngấp nghé đến làm rể nhà ông viên ngoại đã yết bảng kén chồng, là phải giải được một câu đố. Mỗi người một câu khác nhau. Câu đố ông viên ngoại ra cho Chuột Nhắt rằng:

Mặt em phương trượng chữ điền

Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời

Có câu nhân nghĩa, có lời hiếu trung

Dù khi quân tử có dùng

Thì em sẽ ngỏ tấm lòng cho xem.

Viên ngoại hẹn cho Chuột Nhắt phải trả lời được trong vòng ba ngày. Ba ngày thì tìm ra lời giải. Chuột Nhắt lĩnh mệnh, biên câu đố lại, rồi từ tạ viên ngoại ra về. Ngựa mới thủng thỉnh về đến nửa đường, chú Chuột Nhắt vỗ trán có mấy cái, đã nẩy ra được câu lời giải. Chú vuốt ria, vừa đi vừa tủm tỉm cười. Về nhà, chú kể chuyện cho cha mẹ nghe. Thử ông vội hỏi:

– Thế con nghĩ ra câu trả lời chưa?

– Viên ngoại vừa nói xong con đã đoán ra được.

– Đoán được là gì?

– Là cái quyển sách, chứ lại còn cái gì nữa!

Thử ông ra vẻ nghĩ ngợi và gật gù khen là đúng. Ngày hôm sau, Chuột Nhắt đóng một quyển sách thật đẹp, bìa mo sơn then, trong viết cả một đoạn tam tự kinh, cho gửi sang nhà viên ngoại. Viên ngoại kinh ngạc và phục tài công tử Chuột Nhắt quá. Vì từ xưa tới nay, ông cũng đã ra nhiều câu đố, không những là ít ai đoán đúng, nhiều chàng trai không dám vác mõm trở lại nữa. Đằng này, Chuột Nhắt đoán chưa được một ngày đã ra. Quả là thần đồng! Tiểu thư Chuột Chù cũng tấm tắc khen: Tài, tài. Hai bố con liền cho tin sang bên nhà Thử ông để mời mối lái đến. Đôi bên nhà trai nhà gái đã định ngày làm lễ hỏi.

* * *

Nhưng câu chuyện không phải ổn thoả ở chỗ ấy. Một hôm, có một khách đến chơi nhà ông viên ngoại, nói rằng muốn ngỏ một câu chuyện cần. Viên ngoại mời vào, gã Chuột lạ ấy thi lễ rồi nói rằng:

– Tôi nghe đồn viên ngoại sắp gả chồng cho quý tiểu thư?

– Phải.

– Quý tiểu thư lấy thằng chồng thọt chân đấy.

Viên ngoại trợn mắt:

– Thế nào? Ai thọt chân? Bác nói sao?

– Tôi nói rằng viên ngoại sắp gả con cho một thằng thọt chân.

– Ai thọt chân? Công tử Chuột Nhắt chăng?

– Lại còn ai nữa!

– Bác kể đầu đuôi cho ta nghe.

– Tôi cũng chẳng rõ gia cảnh nhà ấy đâu… Tôi chỉ biết có mỗi một điều là công tử Chuột Nhắt thọt một bên chân trái.

– Tại sao bác biết?

– Ngày công tử Chuột Nhắt về vinh quy, tôi đi khiêng kiệu. Kiệu đổ. Lại chính tôi cõng công tử vào hang, vì công tử què chân, không đi được nữa. Về sau chữa chạy mãi không khỏi. Thử ông bịt tiếng, cho mỗi phu kiệu một ít tiền, để khỏi đi đưa chuyện.

– Thế ông ấy có cho tiền bác không?

– Không, ông ấy bỏ sót tôi.

Viên ngoại ngẫm nghĩ:

– Làm thế nào có thể tin được lời của bác?

Chàng kia cả cười:

– Có khó gì điều ấy. Viên ngoại cho mời công tử Chuột Nhắt đi bộ sang đây rồi lại mời ra chơi vườn hoa.

– Ngộ công tử từ chối?

– Thì cứ như là viên ngoại thách đố một lần nữa. Thách công tử Chuột Nhắt phải đi bộ sang bên này. Bấy giờ viên ngoại sẽ biết lời tôi đúng hay sai.

Viên ngoại bán tín bán nghi. Ông bàn với con gái. Hai cha con luận bàn với nhau một lúc lâu. Cuối cùng, ông viên ngoại nói rằng:

– Thì ta cứ thử như lời người kia nói. Nếu mà công tử Chuột Nhắt quả thật không có tật, nếu ta mời bó buộc như thế cũng chẳng hại gì.

Rồi ông viên ngoại đưa tin sang nhà Thử ông. Rằng sáng hôm mười tư, mời công tử sang dự cỗ. Nhưng muốn theo đúng nghi lễ con cái nếp nhà, công tử nên đi bộ sang. Hai cha con viên ngoại đợi ngày mười tư xem sao. Sáng hôm ấy, có tiểu đồng Chuột bên nhà Thử ông sang thưa:

– Bẩm, cậu con bữa nay hơi ấm mình, xin viên ngoại cho kiếu lỗi.

Viên ngoại vào nói với con gái:

– Con ơi! Có lẽ lời kẻ kia nói đúng. Nhưng ta phải thử một lần nữa.

Một lần, viên ngoại lại cho gia nhân sang mời công tử Chuột Nhắt đến ăn giỗ kị. Theo lễ, công tử cũng phải đi bộ, và viên ngoại quý rể còn cho gia nhân sang đón tận nơi . Chao ôi! Thực là khổ sở cho chú Chuột Nhắt. Chú biết làm sao bây giờ. Chân chú thọt mất một bên trái. Nếu không đi ngựa, không kẻ xốc nách, chú phải bước lò cò, tập tễnh. Cứ kể, nếu bò quãng ngắn quanh quẩn trong hang, chú chuột cũng có thể gắng sức bò cho chỉnh chện được. Nhưng đằng này, phải cuốc bộ từ đây ra ven sông qua mấy cánh đồng. Tự dưng lại giở cái trò quái độc này, chắc lão viên ngoại đã nghe phong thanh ai nói thế nào rồi đấy. Mồm miệng đồn thổi gớm thật! Cái gì đã xảy ra, cái gì có thể nói được là sự thực, tất chẳng thể giấu nổi ai. Biết làm thế nào? Bắt buộc Chuột Nhắt lại phải cho tiểu đồng sang nói dối một lần nữa:

– Thưa viên ngoại, công tử bị cảm chưa được mạnh, không dám ra ngoài.

Thế là viên ngoại có thể đoán biết rõ mười mươi căn bệnh của công tử Chuột Nhắt như thế nào rồi. Hôm sau, ông viết thư sang khước hôn cho con gái. Thử ông và Thử bà giận lắm. Công tử Chuột Nhắt thì thở dài thườn thượt và chốc chốc lại ngước mắt lên nhìn trời. Thực ra Chuột Nhắt nghĩ giận vô cùng. Chú thấy thế này là đời tráo trở quá, ăn ở không có trước sau. Chú nghĩ cách báo thù. Chú cũng nhỏ nhen lạ. Bởi chú chẳng nghĩ được rằng vì cái chân thọt của chú mà người ta không gả con cho chú. Chính chú định giấu giếm trước kia mà. Chú báo thù ông viên ngoại thế nào? Học trò chân yếu tay mềm, biết làm gì nên chuyện! Nhà ông viên ngoại có nhiều thế lực, không mỗi chốc cách nào mà chú dám bắt nạt. Thế mới khó. Nuốt hận thì căm. Mà để vậy thì xấu hổ. Chú nghĩ ba ngày ba đêm mà không vỡ ra được một kế gì. Người chú gầy tọp lại. Lông tóc chú rụng nhiều quá, hói cả đỉnh đầu, Sang đến ngày thứ tư, chú đương đứng bần thần ở cửa hang bỗng reo lên. Chú đã nghĩ được một kế. Diệu lắm. Chú sẽ làm một bài hát chế ông viên ngoại. Tài học của chú để đâu mà lại không có thể làm được một bài vè thực hay! Lập tức, chú thảo luôn. Chú làm một bài. Đầu đề là bài vè chế ông viên ngoại thách cưới cho cô Chuột Chù. Làm xong, Chuột Nhắt hắng giọng kể thử. Vè rằng:

Em là con gái nhà giàu

Cha em thách cưới ra màu xinh sao

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời

Nắp tròn dẫn đủ trăm đôi

Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng.

Sắm xe tứ mã mang sang

Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu

Ba trăm nón nghệ đội đầu

Mỗi người một cái quạt tàu cầm xinh

Anh về sắm nhiễu Nghi Đình

May chăn cho rộng, tối mình đắp chung

Cưới em chín chĩnh mật ong

Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò

Cưới em tám vạn trâu bò

Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm

Răng nanh thằng Cuội, râu cằm ông Thiên Lôi

Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi

Xin chàng chín chục con dơi goá chồng

Thách thế mới thoả trong lòng

Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân

Khi bài vè được chú Chuột Nhắt truyền ra, tất cả cánh đồng, có bao nhiêu làng xóm Chuột thì cả bấy nhiêu đều lập tức thuộc lòng như cháo. Ai cũng kể luôn miệng, ai cũng hát vung lên. Viên ngoại biết. Rồi tiểu thư Chuột chù cũng nghe Bố con chỉ còn tức mà nguyền rủa, không làm gì được.

 * * *

Đương khi ấy, lão Mèo lại đâm bổ vào câu chuyện. Lão đến đâu, là xổ ra nguồn gốc của những rắc rối không lường được. Có lẽ đó là một lão đói ăn. Hay là một ngày mưa chi đó. Trời mưa thì nhàn rỗi. Mà nhàn rỗi, thường nghĩ vẩn vơ, rồi đâm ra nghĩ và làm bậy bạ. Dường như trong một lát thong thả lão nhớ thèm những con cá săn sắt béo ngậy mà dạo nọ Thử ông, Thử bà đem biếu vào dịp Chuột Nhắt vinh quy. Lão nghĩ đến thì lão tưởng ngay tới sự đòi hỏi. Bởi vì ở đất này, lão là chúa. Lão là chúa thì lão chẳng còn biết sợ ai! Vả lại, lão vừa nghe thoáng thoáng mấy bữa nay, có đứa nào hát hỏng một câu gì có vẻ nói như là Chuột Nhắt sắp lấy vợ. Rất có thể, lão đến nhà Thử ông mà đòi ăn uống, nhà ấy đương có việc vui mừng. Lão đi lừ đừ bốn chân, lão gườm gườm đôi con mắt. Vừa tới cửa hang Thử ông, lão hét lên mấy tiếng thật to. Thử bà vừa thò đầu ra thì lão giơ chân chộp lấy. Lão chộp trúng lưng bà lão. Bà lão co người lại, ngã chúi vào trong hang. Mèo đắc chí lại gào lên mấy tiếng. Lão đứng chờ mãi mà cũng chẳng thấy ai ra nữa. Bực mình, lão cào cào tung toé đất lên rồi ngoe nguẩy đuôi lững thững đi. Chắc lão không tưởng rằng lão vừa gây ra một tai nạn cho gia đình Chuột Nhắt. Bởi vì bà lão ngã vào trong nhà thì ở mảng sống lưng rời ra một miếng thịt đỏ hỏn vì bị móng chân của Mèo cào. Thử bà ngất đi. Cả nhà lay gọi rối rít. Nhưng vì chuột bà gầy yếu quá, và bị vuốt chân ông Mèo móc vào lưng cũng khá sâu, đau quá không tỉnh lại nữa, cứ bằn bặt thiếp… rồi tắt thở. Cả nhà khóc lóc thảm thiết.

* * *

Từ đấy Chuột Nhắt càng để tâm thù cha con cô Chuột Chù tợn. Bởi vì chú Chuột Nhắt lại cho rằng chính lão viên ngoại nọ đã sinh sự gây ra cái chết thảm của mẹ chú. Ôi, bà mẹ hiền của chú chết ai oán quá. Chú cần phải báo thù. Thù này chẳng đội trời chung. Chú Chuột Nhắt cố lo báo thù. Có lẽ chú cũng chú ý tìm thầy học võ. Nhưng tìm không thấy chú lại đặt ra nhiều bài hát châm chọc nữa để bôi xấu cha con nhà lão viên ngoại. Nhưng xỏ xiên mãi cũng chán. Bởi vì lão cũng chẳng chết. Bố con lão vẫn sống nhăn răng. Một ngày kia, Chuột Nhắt nghe người ta đồn rằng ở bên kia cánh đồng có ông Chuột Cống là một tay lão luyện giang hồ. Ông ta có nghĩa khí, có chí làm việc lớn. Ông lại võ nghệ cao cường. Ông giao du với nhiều bè bạn bốn phương thiên hạ. Chuột Nhắt lần mò đến hang Chuột Cống xin vào yết kiến. Chuột Nhắt kể lể việc đau đớn nhà mình cho Chuột Cống nghe, rồi nghiến răng mà nói:

– Thưa ông, tôi thâm thù lão viên ngoại. Giá tôi có thể chết mà giết được lão, tôi cũng xin chết.

Chuột Cống ha hả, vỗ lên đầu Chuột Nhắt mà rằng:

– Khá khen cho anh. Anh còn trẻ mà có chí có gan, giỏi lắm. Nhưng tiếc thay, anh đã đem dùng nhầm cái tài của mình.

Chuột Nhắt hỏi lại:

– Ông bảo tôi phải làm thế nào mới đúng?

– Đầu tiên, anh vinh quy ỏm tỏi, đó là một sự huyênh hoang vô ích. Về sau, anh lại hí hửng muốn lấy vợ. Chao ôi! Làm như ở trên đời này, một thanh niên chưa có vợ, chẳng thể sống được hay sao? Phải lập thân trước đã chứ! Anh nên quên cái lão viên ngoại tráo trở, cái cô Chuột Chù đỏng đảnh kia đi. Đừng bao giờ nghĩ rằng họ đã làm hại nhà anh. Đã nghĩ thì phải suy lên tận ngọn. Anh phải tự hỏi anh rằng bởi đâu mà chân anh thọt, bởi đâu mà mẹ anh chết. Bởi đâu mà họ nhà Thử chúng ta phải khổ sở đến thế này? Chỉ bởi tại thằng Mèo. Phải đánh đổ cho kì được thằng Mèo. Nếu nó chết chúng ta sẽ được sống yên lành trong hang, ngoài bờ cỏ, ngoài ruộng lúa. Chính tôi đương cổ động tất cả hãy hoạt động để phá cho bằng được cái lâu đài của thằng Mèo độc ác ấy đi.

Chuột Nhắt reo lên như hét:

– Tôi xin theo ông. Tôi sẽ đi nói cho tất cả xung quanh tôi ai cũng biết những điều to lớn ông đã bảo tôi.

– Bạn ơi! Thế là bạn đã giác ngộ rồi đó!

Từ đấy, gã Chuột Nhắt đã có một lý tưởng để theo. Gã Chuột Nhắt đã có một nghĩa vụ để làm. Từ đấy chúng ta thường thấy gã nhanh nhẹn trong mọi công việc của gã, dù gã vẫn mang cái chân bệnh tật. Và gã vẫn chưa có vợ. Mà gã cũng chẳng nghĩ đến những điều ấy nữa. Lập thân trước đã chứ!

Về sau, cô tiểu thư Chuột Chù kia cũng héo hắt đi rồi chết già, chẳng ai buồn lấy, chẳng ai rước đi cho. Là vì cô đỏng đảnh, khinh người, làm bộ quá. Làm bộ mãi thì đời làm bộ trả. Ở đời, kiêu kì bắc bậc, chỉ tổ làm cho ai nấy sinh ghét.

 Nguồn: Tổng hợp.

Continue reading

Tiêu diệt mãng xà

Ngày xưa, trong một hang núi nọ có một con mãng xà. Đầu nó to bằng cái chum, trên đầu có mào đỏ, hai mắt như hai quả quýt, thân dài hơn trượng. Nó đi đến đâu là cuốn thành bão đến đấy, cây cối đổ rào rào, bụi bốc mù mịt. Nó đã ăn thịt không biết bao nhiêu là súc vật và người. Người ta dùng nhiều cách để diệt trừ, nhưng mãng xà đã không chết mà còn phá hoại dữ dội hơn. Cuối cùng nhà vua phải sai dựng cho nó một cái đền và hứa mỗi năm khấn một mạng người để nó đỡ phá phách. Nhà vua ra lệnh bắt các làng mỗi năm phải nộp một người con gái để dâng cúng mãng xà, nhưng cũng cho rao trong nước, ai tiêu diệt được con quái vật ấy thì sẽ phong quận công và cho lấy công chúa làm vợ.

Bấy giờ có một chàng trẻ tuổi từ lâu được một nhà sư đưa lên nuôi trên một ngôi chùa ở núi cao. Hàng ngày nhà sư truyền cho anh nghề múa gươm và các môn võ nghệ. Thành tài, anh được thầy tặng một thanh gươm quý và cho phép “hạ sơn”. Hôm ấy anh trở về làng. Sau khi kéo bộ suốt cả một ngày mệt nhọc, anh thấy một tòa đền có ánh sáng le lói, không biết là đền mãng xà, bèn ghé vào nghỉ chân. Vừa bước vào cổng đền bỗng nghe có tiếng khóc thút thít ở phía trong, anh lấy làm ngạc nhiên vội lần vào thượng điện. Dưới ánh đèn dầu, anh thấy một cô gái trạc mười tám, hai mươi tuổi, bị trói vào cột ở một góc điện. Anh lập tức bước đến cởi trói cho nàng và nói:

– Làm sao cô lại bị trói ngồi ở đây?

Cô gái gạt nước mắt nói:

– Chàng là ai, ở xứ nào mà không biết đây là đền thờ mãng xà ư?

Đoạn cô kể lại những hành động của mãng xà, mỗi năm phải nộp một mạng người ra sao, cuối cùng cô nức nở:

– Nhà thiếp có một mẹ một con, nghĩ mình chết đi cũng không tiếc, chỉ thương mẹ già không có ai nuôi. Nhưng thôi chàng hãy đi mau khỏi chốn này, nếu không mãng xà nó đền thì chẳng còn tính mạng.

– Thế bao giờ thì nó đến đây?

– Chỉ nội trong đêm nay!

Chàng trẻ tuổi ân cần:

– Tôi muốn thay nàng nộp mạng cho mãng xà để nàng được về với mẹ.

Cô gái đáp:

– Thiếp không muốn vì mình mà người khác phải chết. Cứ để mặc thiếp chịu số kiếp thê thảm, tiền oan nghiệp chướng này. Chỉ mong chàng nếu có đi qua làng, hãy làm ơn ghé vào an ủi mẹ già giúp thiếp.

– Không. Nàng hãy kịp tránh khỏi nơi đây để mặc tôi với con quái vật.

Rồi rút gươm ra khỏi bao, chàng nói tiếp:

– Nó không thể làm hại được tôi đâu. Tôi sẽ bắt cái này ra đối mặt một phen với nó. Nàng hãy chạy về làng mau đi!

Nói đoạn, anh dẫn cô gái ra khỏi cánh rừng, rồi trở lại đền nai nịt gọn ghẽ, quyết thức đợi mãng xà.

Vào khoảng nửa đêm, bỗng phía ngoài có tiếng rào rào, cành cây gẫy răng rắc. Một mùi tanh tưởi xông vào mũi đến lộn mửa. Chàng trẻ tuổi đứng dậy rút gươm nấp vào bên thượng điện. Mãng xà quen như mọi khi, từ từ vắt mình qua tường tiến vào. Nhưng nó vừa thò cái đầu vào đền thì chàng trẻ tuổi đã khởi thế công ngay. Lưỡi gươm của anh lóe lên trong đêm tối như chớp giật. Con quái vật bị thương, lao tới toan nuốt sống kẻ thù. Nhưng đường gươm lợi hại của anh đã lại bồi cho nó một nhát thứ hai. Mãng xà đau quá, rống lên, hà hơi phun gió rồi quật đuôi tới tấp làm anh lăn đi mấy vòng. Sắp bị lọt vào miệng quái vật thì may sao, anh đã kịp đứng bật dậy, thủ thế đâm cho nó một mũi thứ ba, nhưng vì đâm mạnh quá nên mũi gươm bị gãy. Anh bèn bồi tiếp mấy nhát, mãng xà bị thương nặng. Cả khúc thân của nó quằn quại mạnh đến nỗi tường và mái đền đổ sụp, gạch ngói lăn xuống rào rào. Anh giơ lưỡi gươm chặt lấy cái đầu con ác thú.

Giết được mãng xà, chàng trẻ tuổi khát nước quá chạy khắp rừng đi tìm suối giải khát, rồi vì mệt quá, anh lần ra bên bờ suối ngủ thiếp một ngày một đêm.

Trưa hôm sau, một viên quản có phận sự gác ở khu vực này tiến vào đền để dò động tĩnh. Hắn vô cùng kinh ngạc khi thấy mãng xà nằm trên vũng máu, mà cô gái thì không biết đã biến đi đường nào. Nhưng nghĩ đến lời hứa của vua, hắn lập tức xách lấy đầu mãng xà phóng ngựa về kinh lĩnh thưởng. Trông thấy đầu con quái vật, nhà vua rất vui mừng. Vua hỏi:

– “Ai đã giết được mãng xà?” Viên quan đáp: – “Tâu bệ hạ chính là kẻ hạ thần này”. Vua khen ngợi hồi lâu, rồi ban sắc chỉ phong cho làm quận công, lại truyền gả công chúa như lời đã hứa.

Đám cưới tổ chức rất linh đình. Nhưng giữa hôm cưới, trong khi vua quan tề tựu đông đủ, thì bỗng có một người khách lạ xin vào yết kiến. Vua truyền cho vào. Người khách lạ chính là chàng trẻ tuổi đã giết mãng xà. Vua hỏi:

– Nhà ngươi đến đây có việc gì?

Chàng trẻ tuổi đáp:

– Tâu bệ hạ, chỉ xin phép bệ hạ cho tôi được lấy lại một mảnh gươm gãy còn giắt trong đầu mãng xà mà thôi!

Vua hết sức ngạc nhiên:

– A, vậy ra không phải là phò mã của ta đã hạ thủ mãng xà ư?

Vua nhìn sang phò mã. Phò mã mặt đã tái đi, nhưng vẫn cố cãi:

– Nó là thằng bá vơ nào dám vào đây nhận xằng!

Vua liền sai hoãn ngay lễ cưới lại rồi bảo vệ sĩ bổ đầu mãng xà để tìm mảnh gươm. Một lát sau vệ sĩ đã đưa mảnh thép về dâng nộp, khi ráp vào với gươm của chàng trẻ tuổi thì vừa như in. Vua thét:

– Thì ra phò mã đã lừa dối trẫm và mọi người.

Lập tức vua sai lột thẻ vàng quận công của hắn rồi đeo vào cho chàng trẻ tuổi. Sau đó vua dắt anh ngồi vào chỗ ngồi của phò mã, và ra lệnh cho lễ cưới lại tiếp tục như cũ.Trong khi đó thì viên quản bị giải ra pháp trường.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp

Continue reading

Cái cân thủy ngân

Ngày xưa, có một nhà làm nghề buôn bán, gian tham chế ra một cái cân cán rỗng, trong đổ thủy ngân, hai đầu bịt đồng, không ai biết. Khi cân hàng bán cho người ta thì dốc cán về đằng móc, còn khi cân hàng mua của ai thì dốc cán cân về đằng quả. Như vậy một cái cân vừa nặng vừa nhẹ được, và bao giờ phần lợi cũng về mình.

Không bao lâu nhà ấy trở nên giàu có, vì buôn bán lọc lừa.

Nhà này sinh ra được hai đứa con mặt mũi khôi ngô, học hành thông thạo. Thiên hạ ai nấy đều khen là nhà có đại hồng phúc. Một hôm hai vợ chồng ngồi bàn với nhau: “Nhà ta bây giờ đã giàu có nhiều, lại được hai đứa con khôn ngoan học giỏi. Bây giờ ta đem phá bỏ cái cân điên đảo kia đi, để dành đức lại cho con về sau”.

Bàn xong hai vợ chồng thuận tình làm lễ sám hối, trên thì cúng Phật, dưới cáo cùng tổ tiên, rồi đem cái cân ra chẻ. Khi chẻ ra, thì thấy trong cái cân có đọng một cục máu đỏ.

Từ đó hai vợ chồng bảo nhau ăn ở tu nhân tích đức, tránh điều dữ, làm điều lành. Nhưng cách đó hai tháng, bỗng một hôm một đứa con lăn ra chết, rồi không bao lâu, đứa con còn lại cũng lăn ra chết nốt. Hai vợ chồng kêu gào khóc lóc thảm thiết, nghĩ rằng mình đã có bụng cải ác vi thiện mà Trời Phật không chứng quả. Rồi hai vợ chồng rầu rĩ khổ sở, cứ ngồi than dài thở vắn, không buồn động đến việc gì nữa.

Một đêm, hai vợ chồng cùng nằm mơ có ông Bụt đến bảo rằng: “Vợ chồng hãy nên lo toan làm ăn tu tỉnh lại, chớ vội ngồi vậy mà trách Trời không có mắt. Trước Trời thấy chúng mày buôn bán lọc lừa, Trời đã sai hai con quỷ xuống đầu thai phá tan cho hết những của phi nghĩa chúng mày chắt bóp nhặt nhạnh bao nhiêu năm nay. May mà chúng mày sớm biết hối hận, cải tà quy chánh, tránh dữ làm lành, Trời mới sai bắt hai con quỷ ấy về. Đừng thương tiếc chúng nó làm chi nữa. Chúng mày cứ ăn ở ngay lành rồi Trời lại đền cho hai đứa con khác để ngày sau mà nhờ”.

Hai vợ chồng biết thế, không thương khóc con nữa, lại làm ăn như cũ, và lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm, cố gắng làm bao nhiêu điều từ thiện, phúc đức. Quả nhiên sau lại sinh được hai đứa con trai khác. Hai đứa con hiền lành tử tế, văn hay chữ tốt, rồi sau lớn lên, làm cho cha mẹ được vẻ vang sung sướng trong cảnh già.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Continue reading

Phơi sách, phơi bụng

Làng Quỳnh có một lão trọc phú. Lão này đã dốt lại thích học làm sang, thỉnh thoảng mò đến nhà Trạng, đòi mượn sách. Tất nhiên lão có mượn được sách về thì cũng biết gì đâu đọc. Quỳnh bực lắm, một bận, thấy lão lấp ló đầu cổng, Quỳnh vội vác ngay chiếc chõng tre ra sân, cởi áo nằm phơi bụng. Lão trọc phú bước vào, thấy lạ, hỏi:

– Thầy làm gì thế?

Quỳnh đáp:

– À! Có gì đâu! Hôm nay được cái nắng tôi đem phơi sách cho khỏi khô mốc

– Sách ở đâu?

Quỳnh chỉ vào bụng:

– Sách chứa đầy trong này!

Biết mình bị đuổi khéo, trọc phú lủi thủi ra về.

Bận khác, lão cho người mời Quỳnh đến nhà. Để rửa mối nhục cũ, lão bắt chước, đánh trần, nằm giữa sân đợi khách…

Quỳnh vừa bước vào, lão cất giọng con vẹt, bắt chước…

– Hôm nay được cái nắng tôi nằm phơi sách cho khỏi mốc

Bất ngờ Quỳnh cười toáng, lấy tay vỗ bình bịch vào cái bụng phệ mà nói;

– Ruột nhà ông toàn chứa những của ngon chưa tiêu hết phải đem phơi, chứ làm cóc gì có sách mà phơi!

Lão trố mắt kinh ngạc:

– Sao thầy biết?

Quỳnh lại cười toáng lên, lấy tay lắc lắc cái bụng béo ụ ị của lão:

– Ông nghe rõ chứ? Bụng ông nó đang kêu “Ong óc” đây này! Tiếng cơm, tiếng gà, tiếng cá, lợn… Chứ có phải tiếng chữ, tiếng sách đâu. Thôi ngồi dậy, mặc áo vào nhà đi.

Lão trọc phú lủi thủi làm theo lời Quỳnh, và ngồi tiếp khách một cách miễn cưỡng.

Nguồn: Tổng hợp.

Continue reading

Cúng Thành Hoàng

Lần khác, vợ Quỳnh ốm, thuốc thang chữa mãi không khỏi, xem bói, thì ra không phải tại Chúa Liễu mà do động Thành Hoàng bản thổ. Quỳnh ra đình khấn vái, xin Thành Hoàng cho khỏi, sẽ sửa gà lễ tạ. Khấn xong, về đến nhà thì vợ đã khỏi rồi. Bà vợ giục làm gà lễ tạ, Quỳnh bảo:

– Được, nhà không có gà ta có cái khác để lễ tạ rồi. Rồi Quỳnh vào ổ gà, thủ hai quả trứng, đem luộc. Người nhà tưởng luộc để đánh gió. Một lúc, Quỳnh khăn áo chững chạc, cầm cái đĩa và hai quả trứng đi. Người nhà lấy làm lạ, đi theo xem, thì thấy Quỳnh vào đình để đĩa trứng lên hương án rồi đứng đọc bài văn tế nôm rằng:

Chú là kẻ cả trong làng,
Ta là người sang trong nước,
Đôi bên chức tước chả kém gì nhau.
Vì trẻ nó đau, phải ra khấn vái.
Phiên chợ thì trái, không mua được gì.
Nhà có con ri nó vừa nhảy ổ,
Bắt ra mà mổ, nghĩ cũng thương tình,
Chú có anh linh, xơi hai trứng vậy.
Khấn xong, chẳng lễ, chẳng vái gì trở ra về nói với vợ là yên tâm dưỡng cho thật lành bệnh bởi Thần hoàng đã nhận lễ mà bằng lòng rồi.

Nguồn: Tổng hợp

Đọc truyện trạng quỳnh

Continue reading

Nàng tiên cóc

Ngày xưa, có hai vợ chồng nông dân hiếm hoi, cầu Trời khấn Phật mãi người vợ mới có thai, nhưng đến khi sinh ra, không phải là người mà lại là một con cóc.

Con cóc lớn lên, biết nói tiếng người, song hình thù sần sùi, xấu xí, khiến cha mẹ nó lấy làm buồn phiền, thường than thở với nhau: “Vợ chồng mình già cả, hiếm hoi, tưởng sinh được mụn con nối dòng, trông nom đỡ đần mình, ngờ đâu oan gia nghiệp báo lại sinh ra cóc, còn trông mong gì nữa”!

Cóc nghe thấy thế, khuyên cha mẹ đừng lo. Rồi ngay hôm sau cóc nhảy đi coi ruộng cho cha mẹ, và từ khi nó trông nom đồng áng thì chẳng có ai lấy trộm lúa ruộng nhà nó như trước nữa.

Một hôm, có mấy thư sinh đi qua ruộng nó, dẫm lên lúa, bỗng nghe có tiếng lanh lảnh như giọng con gái bảo rằng: “Xin các cậu đi cho có ý tứ kẻo làm nát lúa nhà em”. Lũ thư sinh nhìn vào ruộng lúa, chẳng thấy ai, chỉ thấy một con cóc đang ngồi đó. Tiếng nói dịu ngọt làm cho một anh trong bọn đâm ra có cảm tình. Chàng thư sinh này bấy lâu đọc sách đạo thần tiên, tin tưởng có sự mầu nhiệm ở đời, nên về nhà nói với cha mẹ xin hỏi cóc làm vợ.

Ban đầu cha mẹ thư sinh tưởng con mình hóa dại, song anh ta cứ một mực đòi lấy cóc làm vợ cho kỳ được, nếu không thì thề quyết chẳng lấy ai. Người cha bèn kiếm cớ từ khước, bảo chỉ có một mình anh ta là con trai, cưới cóc về có sinh ra được con cái để nối dòng không? Thư sinh tin là sẽ có sự nhiệm màu xảy đến trong ngày cưới cóc về, Tiên Phật sẽ giúp cho cóc thành người có đức hạnh, nhan sắc hơn đời. Thấy con đã nhất quyết như vậy, cha mẹ anh ta cũng đành phải chiều theo, đem trầu cau đi hỏi cóc.

Đến ngày cưới, bên nhà trai mang đủ lễ vật, đồ nữ trang, quần áo cho cô dâu như người thường, chàng rể hy vọng Tiên Phật hóa phép cho cóc thành một cô gái xinh tươi như chàng vẫn mộng tưởng. Cả hai họ cũng trông mong như vậy, nhưng đến khi rước dâu, mọi người phải tức cười và xấu hổ vì đưa đón một con cóc nhảy về nhà chồng.

Cha mẹ chồng vừa rầu, phiền cho con trai, vừa chua xót vì con dâu cóc, liền cấp ruộng cho đôi lứa đi ở riêng. Thư sinh cũng buồn lòng, cặm cụi học hành, nghiên cứu các khoa học thần bí, hy vọng gỡ rối cho gia đình, nhất là đối với cha mẹ già đang khát khao có cháu bế. Cóc thì siêng năng công việc ở nhà, thức khuya dậy sớm khuyên chồng chăm chỉ bút nghiên.

Ngày ngày anh ta đi học về thì đã thấy cơm nước sẵn sàng, nhà cửa sạch sẽ ngăn nắp, mới nghĩ bụng rằng trong lúc vắng mình, chắc vợ trút lốt cóc thành người, chứ một con cóc thì làm sao lo việc nội trợ khéo léo được thế kia? Mấy bận anh ta thử rình, ra đi rồi thình lình trở về bất ngờ, hy vọng bắt gặp vợ là một cô gái xinh đẹp, song chỉ thấy một con cóc sần sùi ở nhà. Anh van nài cóc hóa thành người đẹp cho mình được sung sướng, nhưng cóc vẫn thản nhiên không tỏ vẻ gì cả.

Một tối, anh cho cóc hay tin mình được bổ đi dạy ở trường tỉnh, ngỏ thật rằng mình không thể đưa vợ đi theo nếu vợ vẫn giữ lốt cóc. Từ ngày cưới về anh ta đã chịu biết bao lời chế diễu của hàng xóm, bè bạn. Hơn nữa, cha mẹ vẫn thúc dục anh lấy thêm vợ khác để có con nối nghiệp tông đường. Cóc lặng yên nghe chồng than thở, khuyên chồng chớ nên quá buồn phiền, và xin phép hôm sau về nhà thăm cha mẹ.

Sáng ngày, cóc đi theo chồng, được một quãng thì nhảy vào một cái bụi bên đường. Thư sinh dừng bước lại thì thấy ở bụi cây đi ra một cô gái xinh đẹp lạ lùng, quá sức ước mong của anh bấy lâu. Anh sung sướng ngẩn ngơ nhìn người vợ đẹp lại gần, say đắm ngắm nghía vợ từ đầu đến chân rồi thiết tha xin vợ từ đây cứ giữ hình người. Biết là vợ đã trút lốt cóc ra trong bụi, anh ta kiếm cớ đi lùi lại sau rồi chạy lẻn đến bụi tìm lốt cóc mà dấu vào mình.

Đến nhà, cha mẹ thư sinh mừng rỡ thấy con dâu cóc đã hóa ra người xinh đẹp, dịu dàng. Anh chồng hân hoan thừa lúc mọi người không để ý đến, đem lốt da cóc bỏ vào bếp lửa cho tiêu tan. Hai vợ chồng ở lại nhà cha mẹ cả đôi bên luôn mấy ngày, vui vẻ tiệc tùng liên tiếp rồi mới trở về nhà.

Trên đường về vợ kiếm cớ vào bụi cây để tìm lại lốt cũ, không thấy, chồng mới cho hay là mình đã lấy đốt đi rồi. Vợ đành phải giữ nguyên hình người để về với chồng.

Hai vợ chồng ăn ở với nhau đằm thắm vui vẻ, vợ sinh được nhiều con cái, chồng học thi đỗ cao làm nên chức lớn, sống một đời sung sướng.

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Continue reading

Khỉ và châu chấu

Từ ngày mới có mặt đất và muôn loài, các loài vật cùng nói một thứ tiếng như loài người. Chúng sinh sống với nhau rất hòa thuận, không loài nào bắt nạt, chèn ép loài nào. Duy có khỉ là hay ngỗ ngược, chúng cậy mình vừa chạy được ở dưới mặt đất vừa nhảy được ở trên ngọn cây nên hay bắt nạt các loài nhỏ hơn. Lần ấy khỉ đến một nơi nọ thấy một đàn châu chấu đang bay đi nhảy lại trên bãi cỏ xanh rờn. Nhìn đàn châu chấu bay nhảy vui vẻ, khỉ nổi lòng ghen và bỗng nảy ra một ý tinh nghịch.

Một hôm chẳng biết từ nẻo rừng nào, đàn khỉ kéo nhau đến bãi cỏ. Chúng lăn qua lăn lại quần nát bãi cỏ rồi phóng uế bừa bãi ra đấy. Lũ châu chấu non đang tập bay, chưa cứng cánh bị khỉ đè chết vô kể. Khoàng Tý châu chấu bèn đến gặp Khoàng Tý khỉ để kiện. Khoàng Tý khỉ không những không thèm nghe mà còn dọa dẫm:

– Bọn mày chưa bằng cái lông bọn tao mà dám láo xược à? Chúng mày muốn yên thân thì cút khỏi đây ngay. Rừng này là của tao, bãi cỏ này cũng là của chúng tao.

Khoàng Tý châu chấu nghe mà tức đến tận đuôi cánh, nhưng vẫn phân trần:

– Đầu các bác nhớ sai, miệng các bác nói không đúng rồi! Đây chính là đất đai của chúng tôi đấy! Từ lúc sinh ra chúng tôi đã ở đây. Bố mẹ cụ kỵ chúng tôi cũng ở đây, chết ở đây. Các bác ở trên rừng kia chứ!

Đàn khỉ chừng mắt quát:

– Lấy gì làm chứng mà bọn bay dám láo!

Khoàng Tý châu chấu chỉ vào một mô đất cao giữa bãi cỏ nói:

– Kia! Các bác xem, mô đất là mồ mả tổ tiên chúng tôi. Chúng tôi ở đây để giữ phần mộ thiêng đó.

Đàn khỉ re lên cười. Chúng hè nhau nhảy lên mô đất cào bới. Lòng Khoàng Tý châu chấu đau như lá han xát. Khoàng Tý châu chấu không chịu nổi, mắng lũ khỉ:

– Bớ khỉ! Chúng mày quá lắm! Đưng cậy to xác mà bắt nạt, hà hiếp chúng tao. Chúng tao bé người thật đấy nhưng không sợ chúng mày đâu! Muốn đánh nhay thì đánh!

Khỉ vẫn nhe răng cười khục khục:

– Dám thách đánh nhau với bọn tao à? Mỗi đứa chúng mày liệu có chịu được một cái phẩy tay của chúng tao không?

Khoàng Tý châu chấu cứng cỏi đáp lại:

– Trưa mai chúng tao sẽ gặp chúng mày ở chỗ này.

Đàn khỉ lại nhe răng cười ròi lăn mình ra bãi cỏ ngủ khì.

Khoàng Tý châu chấu trở về liền gọi ngay tất cả bầu đàn thê tử châu chấu lại để bàn việc đánh nhau vởi khỉ rửa nhục. Khi nghe Khoàng Tý của mình nói tơi chuyện đi đánh nhau với khỉ, lúc đầu có nhiều con run sợ. Có con bàn lui:

– Khoàng Tý à! Ta lớn không bằng một ngón chân của khỉ, đánh chúng không nổi đâu. Ta chạy đi nơi khác nhường chúng đồng cỏ này thôi!

Nhưng tiếng nói đó chưa kịp dứt thì cả đàn đã nhao nhao phản đối:

– Không được! Đồng cỏ xanh tốt này là của tổ tiên ta, là của chúng ta, không thể để cho bọn khỉ muốn làm gì thì làm. Cái lý nó không thế. Đất đai của ai người ấy ở chứ. Ta đi mãi được à! Kẻ khác muốn cướp, ta phải đánh nhau thôi!

Một con châu chấu già bị lũ khỉ giẫm què một chân, cũng tham gia:

– Tuổi tôi đã gần hết nhưng thù này chưa trả thì chưa thể nhắm mắt được. Ta nhỏ người sức yếu phải biết cùng một bụng, họp cái sức lại cho lớn mới thắng được. Bụng già nghĩ kỹ rồi, chúng nó lớn xác nhưng ngu. Khi chúng đến, chúng ta chia nhay bay đến đậu lên trán, lên đầy chúng nó. Khi chúng thượng cẳng chân hạ cẳng tay nhằm đánh ta, ta nhanh chân nhảy đi, thế là chúng nó sẽ tự đánh nhau đến vỡ đầu. Chúng ta sẽ thắng cuộc dễ dàng mà!

Đàn hò reo thích thú. Khoàng Tý châu chấu liền chọn những con khỏe nhất để đi đánh trước. Mọi việc đã sắp đặt xong, tất cả cùng một bụng nghĩ. Ngay đêm ấy, bác châu chấu già bay đến lũ khỉ:

– Này các loài khỉ ơi! Tôi đã già, sức lại yếu, Khoàng Tý châu chấu đã đuổi tôi đi, không cho tôi nhập đoàn. Tôi nghe nói các bác sắp khởi quân đánh nhau với lũ chúng nó. Tôi xin hiến kế để các bác giết hết chúng đi cho hả giận. Các bác là người tốt bụng nên tôi xin mách điều này: cùng loài tôi biết, họ hàng nhà tôi có cánh, bay đến chỗ nào cũng được, nhưng đánh nhau lại rất sợ gậy gộc. Các bác muốn thắng nhanh mà lại không tốn sức thì cứ kiếm mỗi bác một đoạn gậy cứng. Khi chúng nó đến, các bác cứ mang gậy ra khua, bay mỏi cánh, hễ chúng đậu đâu, cứ đập một nhát là nát tan như đập một giọt nước. Chỉ loáng mắt là chết hết mà!

Châu chấu già nói xong rồi chỉ vào cái chân què nói tiếp:

– Đây các bác coi, một chân tôi què vì bị đàn cáo dùng gậy quật đấy! May mà tôi chưa mỏi cánh còn bay thoát.

Đàn khỉ ngốc nghếch nnghe châu chấu già nói vậy liền tin ngay. Sáng hôm sau từ lúc ông mặt trời chưa dậy, đàn khỉ đã chí chéo kéo đến bãi cỏ. Con nào cũng mang theo một đoạn gậy. Chờ mãi vẫn không thấy con châu chấu nào, Khoàng Tý khỉ sai quân đến gặp Khoàng Tý châu chấu.

Lần thứ nhất, Khoàng Tý châu chấu bảo:

– Chúng tao còn đang bận ngủ!

Lần thứ hai, Khoàng Tý châu chấu lại bảo:

– Chúng tao còn đang bận ăn! Muốn chết chúng mày sẽ được chết! Giục gì!

Châu chấu cứ nấn ná cho đến khi ông mặt trời đính giữa đỉnh đầu, khi cánh châu chấu đã cứng và cũng là lúc bụng khỉ đói meo. Bất chợt đàn châu chấu mới rào rào bay tới. Lũ khỉ bị đánh úp bất ngờ đâm hốt hoảng. Châu chấu thi nhau nhảy lên đầu lũ khỉ, vừa đá vừa phóng uế bừa.

Đàn khỉ tức khí cứ thất châu chấu ở đâu là nhè đánh tới tấp. Lũ khỉ đánh lộn nhau, kêu chí chóe. châu chấu càng bay lung tung, đậu lung tung như trêu tức lũ khỉ. Bọn khỉ càng phang lẫn nhau khỏe hơn. Chỉ loáng mắt, xác khỉ đã la liệt trên bãi cỏ, con nào cũng lòi mắt, nhe răng trắng nhởn!

Thế là hết đời bọn ác, cậy thế hà hiếp bắt nạt kẻ yế. Từ đó đần châu chấu lại ngày ngày tụ tập ở bãi cỏ vui chơi, nhảy nhót như xưa.

Ghi theo lời kể của Chị Khoàng Go Pờ, Bản Mù Cả, Xã Mù Cả, Mường Tè – Lai Châu

Nguồn: Truyện cổ tích Tổng hợp.

Continue reading

Sự tích Cao Lãnh

“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm”

Đồng Tháp Mười ngoài ruộng lúa phì nhiêu và cá tôm lấp lánh, sen nở bạt ngàn, còn có sự tích về một địa danh mà không hẳn ai cũng biết, đó là: Cao Lãnh.
Hồi trước có cặp vợ chồng Đỗ Công Tường, tục danh là Lãnh, từ miền trung đến đây lập nghiệp. Sau mấy năm chí thú làm ăn, gia cư ông Lãnh khá khang trang. Tính tình ông chính trực ngay thẳng nên được dân làng cử làm chức câu đương, một chức danh để phân xử những vụ tố tụng trong làng.

Ông bà Lãnh trồng một vườn quít. Hàng xóm thường tụ tập đến đây để đổi chác, mua bán. Lâu ngày chỗ ấy thành chợ. Đó là chợ Cầu Ông Lãnh ngày nay.

Đến năm Canh Thìn (1820) , nạn dịch tả hoành hành rất dữ. Dân chúng trong lành bị bệnh , chết rất nhiều. Xóm làng chợ búa trở nên vắng vẻ, ảm đạm. Thuở ấy, chưa có thuốc men như bây giờ nên người ta cho rằng bệnh dịch tá là do trời đất, thần thánh gây ra để quở phạt dân làng. Ông Lãnh cũng không suy tư gì hơn quan niệm đương thời nên ông lập bàn thờ giữa sân chợ để khấn vái xin trời đất, thần thánh giúp dân thoát khỏi tình cảnh chết chóc bệnh hoạn ấy. Điều đáng nói là hai ông bà nguyện thế mạng mình để cầu cho dân chúng thoát cảnh đau thương.

Cúng xong , hai ông bà ăn chay ba bữa. Đến sáng hôm thứ tư thì bà Lãnh mắc bệnh. Đến tối bà qua đời. Đang lo việc an táng cho bà thì ông lại phát bệnh và cũng ra đi đột ngột. Nhân dân trong làng lo việc chôn cất ông bà xong thì bệnh dịch tá cũng tự dứt luôn. Mọi người trở lại cuộc sống an nhàn như cũ. Do vậy, họ cho rằng nhờ vợ chồng ông Lãnh thế mạng nên cứu được chúng dân. Để tưởng nhớ công ơn, dân làng lập miếu ngay trên ngôi mộ của hai ông bà, tại làng Mỹ Trà bên bờ kinh Thầy Khâm để thờ phụng, gọi là miếu ông Chủ Chợ.

Chợ vườn quít từ đó được gọi theo tên ông. Vì tên tục của ông là Lãnh, lại làm chức cầu đương, nên dân chúng thường gọi là Câu Lãnh và chợ gọi là chợ Câu Lãnh, chợ Câu Lãnh ngày càng thịnh vượng và người đến mua bán lại đọc trệch Câu Lãnh thành Cao Lãnh nên tên Cao Lãnh được dùng từ đó.

Nguồn: Truyện cổ tích Chọn lọc

Continue reading

Mẹo trảy kinh

Mùa đông năm ấy, Quỳnh có việc đi gặp người bà con đang sinh sống ở Thăng Long. Đường về kinh thì xa, cuốc bộ phải mất cả tuần, mà Quỳnh vẻn vẹn có một quan tiền giắt lưng. Mới ngày thứ ba túi đã hết nhẵn tiền, chiều xuống, trời âm u, lại điểm mưa lâm thâm, gió bấc. Đến đầu làng kia, bụng đói cồn cào, vừa may gặp một đứa bé mục đồng dắt trâu về xóm, Quỳnh mừng rỡ hỏi thăm lối vào nhà ấp trưởng.

Ấp trưởng làng này vừa giàu sụ, vừa nổi tiếng quỷ quyệt. Qua vài lời chuyện trò với người lỡ độ đường, hắn đoán thầm khách không phải là hạng tầm thường, bèn vồn vã mời nghỉ lại và sai gia nhân làm mâm cơm thịnh soạn để thết đãi. Nhưng mấy ngày liền, khách cứ đi đi lại lại, rồi đến bữa nằm dài đợi cơm rượu hỏi đến chức danh công vụ thì cứ ậm ậm ờ ờ. Chủ nhà sốt ruột, sinh nghi. Như thường lệ, tối hôm ấy ăn xong một lúc, Quỳnh cáo lui về phòng riêng giáp với phòng ngủ của chủ nhân. Được một chập, Quỳnh tắt đèn lên giường nằm. Biết ở phòng bên có người vẫn thức rình mò mọi hành vi của mình, lát sau Quỳnh vờ thức dậy rón rén thắp đèn, sau đó cẩn thận lần dưới vạt áo, lấy ra một bọc nho nhỏ bên trong có ba gói vuông, bản bằng nhau. Khách cầm bút long chấm chấm, mút mút đầu ngòi, hí hoái viết vào từng gói như để đánh dấu cho khỏi nhầm lẫn (thực ra chẳng viết gì cả), miệng lẩm nhẩm đọc, cố ý cho kẻ đang rình bên kia khe vách vừa đủ lắng nghe: Độc dược của nhà chúa… Độc dược của bà chính cung… Độc dược của thái tử. Làm như vậy, đoạn Quỳnh đem gói chung thành một bọc như cũ, giắt vào lưng áo. Xong rồi tắt đèn, lên giường nằm trở lại. Khi phòng bên này bắt đầu tiếng ngáy đều đều, thì phòng bên vọng sang tiếng động khe khẽ. Tên ấp trưởng bí mật mở chốt cửa ra ngoài, lẻn đến chuồng ngựa… Hộc tốc lao đi trong đêm.

Sáng hôm sau, mới hửng sáng, quan quân từ đâu ập tới nhà ấp trưởng đông nghịt, gươm giáo tua tủa vây kín mọi phía. Quỳnh mở mắt, chưa kịp búi tóc đã bị trói nghiền lại, quẵng lên một chiếc xe có bốn ngựa kéo, trẩy về kinh.

Trước phủ chúa, Quỳnh bị điệu ra xét xử với nhân chứng và vật chứng rành rành. Chúa đích thân tự tay mở tang vật. Té ra chẳng có gì ghê gớm! Chiếc bọc được gói kỹ lưỡng trong mấy lần mo cau, phủ ngoài bằng một vuông vải điều là chiếc bọc chứa ở bên trong mấy gói cơm khô nhỏ, Chúa lấy mũi hài đá té nắm cơm về phía Quỳnh, hất hàm tỏ vẻ khinh miệt:

– Ta tưởng thế nào… Tài giỏi như Trạng mà cũng ăn cả cái vứt đi này à?

– Khải chúa.

Quỳnh đáp lại không chút ngần ngừ, nhà chúa thừa thãi mới gọi đó là của vứt đi. Còn thần dân bên dưới đâu dám phung phí một hạt, họ gọi cơm gạo là ngọc thực.

Nói rồi, Quỳnh trân trọng nhặt lấy mấy hạt cơm khô bỏ vào mồm nhai rào rạo. Chúa biết mình lỡ lời, đỏ bừng mặt, lại thêm một phen mắc lỡm, tức lộn ruột. Không có cớ gì buộc tội Quỳnh, chúa truyền nọc tên ấp trưởng ra, bắt lính đánh ba chục trượng vì tội nói láo và báo sai.

Trước cảnh tượng ấy, Trạng chỉ biết mỉm cười. Mặc dầu đã được tha bổng, trước khi bái biệt bề trên, Quỳnh vẫn không quên giễu chúa bằng những câu khéo:

– Xin chúa rộng lượng tha thứ cho ấp trưởng. Và cho thần được cảm ơn hắn cùng quan quân triều đình.

Nguồn: Tổng hợp.

Continue reading

Con vợ khôn lấy thằng chồng dại như bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu

Xưa, có một người đàn bà làm nghề dệt vải. Nàng bản tính thông minh tháo vát, nhưng lấy phải người chồng đần độn không làm được nghề gì nên thân. Một hôm, vợ đưa cho chồng mấy tấm vải bảo mang ra chợ bán. Vợ dặn: – “Nếu không được bốn quan mỗi tấm thì đừng có bán, nghe!”

Chồng mang vải ra chợ đi khắp nơi, rao khản cả cổ mà chả có ai mua cả. Mãi về sau có một ông cụ già mua cho hai tấm. Nhưng ông ta lại không mang tiền theo. Ông cụ bảo hắn:

– Chốc nữa anh đến nhà tôi lấy tiền nhé! Nhà tôi cũng ở trong xã này thôi.

Hắn hỏi:

– Nhà ông ở đâu?

– Tôi ở chỗ: “chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi tò le, chỗ cây tre một mắt”. Đến đó tôi sẽ trả tiền ngay.

Đến chiều hắn đi tìm người mua hàng chịu của hắn. Gặp ai hắn cũng hỏi thăm “chỗ chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi tò le, chỗ cây tre một mắt” là ở đâu, nhưng chẳng một ai biết thế nào mà trả lời. Người ta chỉ nói với hắn:

– Thôi rồi, anh mắc phải tay bịp bợm nào đấy thôi!

Hắn đi loanh quanh mãi đến tối mịt không tìm được nhà, đành phải trở về ôm mặt hu hu khóc.

Vợ hắn hỏi tại sao thì hắn kể cho vợ nghe tất cả câu chuyện. Người vợ bảo:

– Cũng dễ tìm thôi! “Chỗ chợ đông không ai bán” là cái nhà trường, “chỗ kèn thổi tò le” là bụi lau vì khi gió thổi nghe như tiếng kèn sáo, “chỗ cây tre một mắt” là bụi hành hay tỏi gì đó. Vậy anh phải kiếm người đó ở một cái trường học, gần đó có bụi lau, trước cửa có vườn trồng hành tỏi.

Qua ngày sau, anh chồng lại cất bước đi tìm. Quả đúng như lời người vợ nói, hắn gặp ông lão hôm qua. Đó là một thầy đồ dạy học trò. Thấy hắn đến, ông đồ liền hỏi xem nhờ ai mách cho mà biết được chỗ ở của mình. Hắn đáp: – “Tôi tìm ông suốt cả một buổi chiều hôm qua. May nhờ có vợ tôi mách cho đấy”. Ông thầy nghĩ: -“Người đàn bà này hẳn là một cô gái thông minh tài trí, ít người sánh kịp”. Hôm đó nhân nhà có giỗ, ông đồ mời hắn ngồi lại ăn cỗ. Hắn ta cắm đầu chén một bữa no nê lại được ông đồ gửi phần về biếu vợ. Nhưng khi trả tiền, ông đồ còn gửi hắn một gói khác bảo đưa cho vợ. Trong đó chỉ có một cục phân trâu ở giữa có cắm một cánh hoa nhài. Hắn ta chẳng hiểu gì cả cứ việc cầm lấy về nhà.

Người vợ trông thấy, hiểu ý ông thầy muốn mỉa mai mình:

Con vợ khôn lấy thằng chồng dại

Như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu

Càng ngẫm nghĩ về “gói quà”, nàng càng buồn bực, trách chồng dốt nát để mang về cho mình một lời trêu chọc chua cay, rồi nghĩ tới duyên phận hẩm hiu, nước mắt nàng lã chã. Nàng vứt cái thoi, bụng bảo dạ: – “Thân thế ta thật chả ra gì. Trên đời có bao nhiêu người khôn ngoan tài giỏi, còn ta thì lấy nhầm phải một thằng chồng u mê đần độn!”. Trong một cơn phiền muộn, nàng chạy ra bờ sông, toan nhảy xuống dòng nước trẫm mình cho rồi một đời.

Lại nói chuyện ông thầy dạy học, sau khi tiễn chân anh chàng bán vải ra khỏi cửa, nghĩ đi nghĩ lại thấy sự trêu chọc ác nghiệt của mình thật là không phải. Ông đâm ra lo câu chuyện đưa tới một kết quả không hay: – “Không biết chừng người đàn bà ấy phẫn chí liều thân hoại thể thì ta sẽ có tội rất lớn với danh giáo”. Nghĩ thế, ông đồ bèn đi mượn một cái giỏ đựng cá thủng trôn, rồi mang ra bờ sông cùng với chiếc cần câu làm bộ câu cá. Ông cứ men theo dọc bờ sông gần làng, đi lại trông chừng. Khi thấy một người đàn bà ngồi trên bờ vắng đang ôm mặt khóc thút thít, ông biết ý vội tiến đến gần, có ý chìa giỏ cho nàng thấy và nói:

– Chị này ngồi tránh đi chỗ khác cho tôi câu cá nào.

Người đàn bà đó đúng là vợ anh chàng bán vải. Nàng ngước mắt trông lên thấy có một người đàn ông đầu đã hai thứ tóc mà lại mang chiếc giỏ rách đi câu. Nàng tự nghĩ: – “Người nào đây ngu quá là ngu. Chồng mình tuy khờ dại nhưng cũng chưa đến nỗi này”. Rồi nàng kết luận: – “Vậy ra chồng mình vẫn còn có những chỗ hơn người”. Nghĩ vậy, nàng bỏ ý định tự tử mà trở về nhà.

Continue reading

Người đàn bà tiết liệt

Ngày xưa ở vùng Bắc Ninh là đất nổi tiếng có nhiều con gái đẹp, có một cô gái làng Cách bi, về làm vợ ông cử nhân Nguyên Hanh, giữ chức tri huyện Thủy đường, người ta vẫn thường gọi là bà huyện Thủy đường. Lấy chồng sinh được một con trai vừa được 7 tháng thì chồng mất. Bà huyện đang còn trẻ đẹp, nhưng nhất quyết ở vậy thờ chồng nuôi con.

Trong làng có tên lý trưởng, vốn là tay cường hào, thấy bà huyện goá đang độ “gái một con trông mòn con mắt” nên thường kiếm cách trêu ghẹo. Muốn được yên thân nuôi con, bà khôn khéo từ chối, bảo chờ đến ngày bà đoạn tang chồng. Một hôm tên lý trưởng đón đường bà đi chợ về, xông ra ôm bà. Bà bỏ chạy về nhà, lạy bàn thờ chồng, rồi trao nhà cửa cho họ hàng, bế con lên chùa Kim giang để tu. Khi con trai được 7 tuổi, bà đưa con trở về nhà, bày lễ tế chồng, giết trâu mời họ hàng và xóm làng đến dự tiệc. Tên lý trưởng đã làm nhục bà lò mò đến, hí hửng nhắc đến lời hứa hẹn cũ. Bà trả lời rằng đợi cúng chồng xong rồi sẽ bàn tính đến.

Trước đông đủ mặt bà con làng xóm, bà lạy bàn thờ chồng xong rồi cầm dao sắc chỉ vào mặt tên lý trưởng mà kể tội làm nhục bà trước kia. Bà nói rằng bà còn sống đến nay là vì đứa con trai nối nghiệp còn nhỏ, bây giờ bà có thể gửi con lại cho họ Nguyễn mà chết theo chồng cho trọn tiết nghĩa. Nói xong, bà tự cắt đứt lìa bên vú đã bị tên lý trưởng chọc ghẹo trước kia, rồi ngã xuống chết. Cả họ liền bắt trói tên cường hào giái lên quan trên trị tội.

Con trai bà huyện Thủy đường là Nguyễn Cao, về sau học hành thi đỗ ra làm quan vào cuối triều vua Tự đức. Khi mất nước, Nguyễn Cao bỏ quan về làng, dù rất nghèo túng. Người Pháp dụ ông ra làm quan, nhưng ông từ chối, họ bảo ông rằng:

– Chúng tôi nghi bụng ông lắm.

– Nguyễn Cao trả lòi: các ông nghi thì để tôi vạch bụng ra cho mà xem.

Vừa nói, ông vừa lấy móng tay bấm thủng bụng, lôi ruột ra. Người Pháp vội vàng đưa thầy thuốc đến cứu chữa, nhét ruột ông vào. Không được chết phô bày gan ruột yêu nước của mình, Nguyễn Cao liền cắn lưỡi tự tử.

Dân gian khi nhắc đến mẹ con bà, thường nói: ” Mẹ anh hùng sinh ra con hào kiệt”.

Nguồn: Tổng hợp

Continue reading

Đầu to bằng cái bồ

Chuyện kể rằng lúc Quỳnh còn nhỏ, mới bảy tám tuổi, Quỳnh đã tỏ ra thông minh đỉnh ngộ nhưng cũng là một đứa trẻ chúa nghịch. Hồi ấy bọn trẻ thường chơi trò xước xách, lấy tàu chuối làm cờ, lá sen làm lọng. Trong trò chơi, Quỳnh bao giờ cũng lấn lướt.

Một đêm mùa thu, trăng tháng tám sáng vằng vặc, đang chơi với đám trẻ ở sân nhà, Quỳnh bảo:

– Chúng bay làm kiệu cho tao ngồi, rồi tao đưa đi xem một người mà cái đầu to bằng cái bồ!

Lũ trẻ tưởng thật, liền tranh nhau làm kiệu rước Quỳnh đi vòng vòng quanh sân, mệt thở muốn đứt hơi. Xong, chúng nhất định bắt Quỳnh phải giữ lời hứa. Lúc ấy trăng đã mờ, Quỳnh bảo:

– Tụi bây đứng đợi cả ở đây, tôi đi đốt lửa soi cho mà xem!

Bọn trẻ nhỏ hơi sợ, không dám ở lại, chỉ những đứa lớn hơn, bạo dạn đứng chờ. Quỳnh lấy lửa thắp đèn xong đâu đấy, rồi thò đầu che ngọn đèn, bảo:

– Kìa, trông trên vách kìa. Ông to đầu đã ra đấy!

Anh nào cũng nhìn nhớn nhơ nhớn nhác, thấy bóng đầu Quỳnh ở vách to bằng cái bồ thật. Lũ trẻ biết Quỳnh xỏ, quay ra bắt Quỳnh làm kiệu đền, Quỳnh chạy vào buồng đóng cửa lại, kêu ầm lên. Ông bố tưởng là trẻ đánh, cầm roi chạy ra, lũ trẻ chạy tán loạn.

Continue reading