Thuốc và món ăn hỗ trợ trị bệnh gút

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Thuốc và món ăn hỗ trợ trị bệnh gút
BS. Phương Thảo – 20:31 11/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Goutte (gút) là bệnh rối loạn chuyển hóa và tăng lắng đọng các tinh thể acid uric tại các khớp, thường xảy ra ở nam giới ngoài tuổi 40. Y học cổ truyền gọi bệnh Goutte là “Thống phong”. Bệnh hay gặp ở những bệnh nhân có chức năng can tỳ thận đã suy yếu, thường xuyên dùng thực phẩm bổ béo, lạm dụng bia rượu, đời sống phóng túng, hay lo nghĩ phiền uất… khiến tỳ thận hư suy vận hóa kém, sinh đàm thấp ứ trệ lâu ngày, từ đó sinh thấp nhiệt ứ kết gây đau tại khớp. Sau đây là một số bài thuốc và món ăn hỗ trợ trị bệnh.

1 – Ngũ gia bì tửu: Ngũ gia bì 50g, địa cốt bì 50g. Sắc lấy nước, uống với chút rượu. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, đau nhức xương khớp.

2. Măng tre xào: Măng tre 250g, dầu thực vật 30ml. Măng tre bóc bỏ vỏ, chẻ sợi, ngâm kỹ, để ráo, xào với dầu đến chín, thêm gia vị vừa dùng. Dùng cho người có acid uric cao (dễ bị thống phong).

Tỳ giải giúp đào thải acid uric, là vị thuốc tốt trị bệnh thống phong.

Tỳ giải giúp đào thải acid uric, là vị thuốc tốt trị bệnh thống phong.

3. Canh củ cải: Củ cải 250g, bá tử nhân 30g. Củ cải rửa sạch thái sợi, xào qua với dầu thực vật, cho cùng bá tử nhân và 500ml nước, đun chín, cho gia vị vừa ăn. Dùng cho người bị thống phong

4. Cháo ý dĩ – phòng phong: Ý dĩ 50g, phòng phong 10g. Cả hai thứ ninh kỹ. Ngày dùng 1 lần, dùng liền 1 tuần. Tác dụng thanh nhiệt trừ thấp; thích hợp với người bệnh thống phong thể thấp nhiệt tê trở.

5. Cháo đào nhân: Đào nhân 15g, gạo tẻ 100-150g. Giã nát đào nhân, cho nước nhiều lần vắt lấy nước cốt. Gạo tẻ vo sạch, nấu với nước cốt đào nhân thành cháo. Ăn trong ngày. Tác dụng hoạt huyết khứ đàm, thông lạc chỉ thống; thích hợp với người bệnh thống phong thể ứ huyết đàm trọc tê trở.

6 – Cháo củ mài, giới bạch: Củ mài 100g, bạch giới tử 10g, hoàng kỳ 30g, gạo tẻ 50g. Củ mài cạo vỏ, thái lát mỏng. Gạo tẻ vo sạch, nấu cháo cùng các dược liệu. Cháo được, thêm đường trắng vừa ăn. Tác dụng ích khí thông dương, hóa đàm trừ tê; thích hợp với người bệnh thống phong thể khí hư đàm trở do tỳ hư bất vận, đàm trọc nội sinh

7 – Bánh bạch giới, liên, sơn: Giới tử 5g, bột liên tử 100g, hoài sơn tươi 200g, trần bì 5g, hồng táo 200g. Hoài sơn cạo vỏ thái nhỏ; hồng táo bỏ hạt; trần bì thái sợi. Giới tử và trần bì giã nát, cho tiếp hoài sơn, hồng táo và bột liên tử, thêm ít nước trộn làm bánh; hấp chín. Ăn bữa sáng. Mỗi lần dùng 50-100g. Tác dụng ích khí hóa đàm thông tê, thích hợp với người bệnh thống phong thể tỳ vị khí hư, đàm trọc tê trở.

8. Thổ phục 30g. Sắc hãm uống. Dùng khi thống phong cấp (sưng, nóng, đỏ đau); hạ thấp acid uric máu.

9. Tỳ giải 30-60g, sắc hãm uống. Trị thống phong cấp và mạn; hạ thấp acid uric máu.

10. Kim tiền thảo 60-120g, sắc hãm uống. Trị thống phong mạn, hạ thấp acid uric máu.

11. Uy linh tiên 30-60g, sắc hãm uống. Trị thống phong mạn, hạ thấp acid uric máu.

12. Đậu tương 50g, đào nhân 15g, lõi bắp ngô 30g. Sắc uống.

13. Vỏ mướp 30g, ý dĩ 30g, gừng 6g. Sắc uống.

BS. Phương Thảo

Tin liên quan
#Thuốc và món ăn hỗ trợ trị bệnh gút

Sức Khỏe Đời Sống

Xuyên khung – thuốc hành khí hoạt huyết

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Xuyên khung – thuốc hành khí hoạt huyết
TS. Nguyễn Đức Quang – 17:20 10/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Xuyên khung còn có tên khung cùng, là thân rễ khô của cây xuyên khung. Xuyên khung có chứa tinh dầu (1%), dầu béo, acid ferulic và các chất phtalid (ligustilide, butylphthalide,…). Tác dụng chống kết tụ tiểu cầu, chống thiếu máu cơ tim, cải thiện tình trạng thiếu máu não và giảm đau.

Theo Đông y, xuyên khung vị cay, tính ôn; vào kinh can, đởm và tâm bào. Tác dụng hành khí hoạt huyết, khu phong táo thấp. Dùng trị đau đầu, đau nhức xương khớp, đau quặn bụng, bế kinh, thống kinh. Liều dùng cách dùng: 4-12g; bằng cách nấu sắc, ngâm ướp, pha hãm.

Một số đơn thuốc có xuyên khung:

Hoạt huyết, điều kinh: xuyên khung 8g, đương quy 12g. Sắc với rượu loãng (nửa nước nửa rượu) để uống. Dùng cho người kinh nguyệt không đều, muộn con.

Trừ phong, giảm đau:

Bài 1: xuyên khung 6g, tế tân 3g, khương hoạt 8g, bạch chỉ 12g, phòng phong 12g, kinh giới 12g, bạc hà 6g, cam thảo 4g. Tất cả nghiền thành bột. Mỗi lần lấy 4g, sắc nước uống hoặc pha với nước chè để uống. Trị đau đầu do phong hàn hay đau đầu, váng đầu sau phẫu thuật.

Bài 2: xuyên khung 6g, bạch cương tằm 6g, cúc hoa 12g, thạch cao sống 12g. Các vị nghiền thành bột hoặc sắc uống. Trị đau đầu do phong nhiệt.

Hành khí, giải uất:

Bài 1: xuyên khung 8g, thần khúc 12g, chi tử sao 12g, hương phụ 12g, thương truật 12g. Sắc uống hoặc làm hoàn, ngày 2 lần, mỗi lần 12g uống với nước nóng. Hành khí giải uất, hoạt huyết. Chữa ngực bụng đầy trướng, đầy hơi, ợ chua, nôn mửa, tiêu hóa kém.

Bài 2: xuyên khung 6g, hồng hoa 6g, quy vĩ 12g, trần bì 12g, thanh bì 8g, hương phụ 8g, đào nhân 8g. Sắc với rượu loãng để uống. Dùng khi vùng ngực bụng trướng đau.

Món ăn thuốc có xuyên khung:

Xuyên khung tán: xuyên khung tán mịn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6g, với nước sôi và chút rượu. Dùng cho người bị đau đầu, đặc biệt là chứng đau nửa đầu (hội chứng Migraine).

Cháo xuyên khung hoàng kỳ: gạo nếp 50-100g vo sạch, hoàng kỳ 16g, xuyên khung 6g. Tất cả nấu cháo, khi cháo chín nhừ, nhặt bỏ bã thuốc rồi ăn. Dùng tốt cho chị em có thai bị động thai, dọa sẩy.

Thịt lợn hầm xuyên khung bán hạ: thịt lợn nạc 60g, xuyên khung 12g, bán hạn chế 12g, bạch biển đậu sao 20g. Dược liệu sắc bỏ bã, lấy nước thuốc nấu với thịt nạc, thêm gia vị vừa ăn. Ngày ăn 1 lần. Dùng tốt cho người bệnh đau đầu do tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, các bệnh lý về mạch máu thần kinh.

Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng, kinh nguyệt quá nhiều, các chứng bệnh có khả năng gây xuất huyết dưới da và nội tạng khi dùng cần thận trọng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Xuyên khung – thuốc hành khí hoạt huyết

Sức Khỏe Đời Sống

Thuốc chữa bệnh từ nhựa cây

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Thuốc chữa bệnh từ nhựa cây
DS. Mai Thu Thủy – 16:00 17/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Nhựa lấy từ thân cây bồ đề vào mùa hạ thu, nhựa hứng được từ lá lô hội, nhựa từ thân cây sung, nhựa được trích từ nhiều loài thông… đều có giá trị chữa bệnh nhất định. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ nhựa cây.

Nhựa bồ đề có tên thuốc là an tức hương: Rạch thân cây, nhựa sẽ chảy ra kết lại thành những giọt to, dẹt, màu trắng đục hoặc vàng nhạt, có mùi thơm dịu như vani, phơi âm can đến khô. Theo các tài liệu cổ, an tức hương có vị cay, đắng, tính bình, không độc, có tác dụng khai khiếu, giảm ho, tiêu đờm, chống viêm, làm se, trừ tà khí.

Chữa viêm phế quản mạn tính: An tức hương 5g tán mịn, hòa với ít rượu cho tan rồi trộn với 100ml siro, lắc đều. Ngày uống 10-20g, chia 2 lần.

Chữa nẻ vú, làm lành vết thương: An tức hương 20g ngâm với 100g cồn (80 độ) trong 10-15 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Bôi vào nơi tổn thương ngày 3 lần. Cồn thuốc này còn dùng để ngậm chữa viêm quanh chân răng.

Thuốc chữa bệnh từ nhựa câyVị thuốc an tức hương.

Chữa trúng phong, hôn mê, đau bụng, thổ tả: An tức hương 2-4g sắc với nước nhỏ lửa, chia uống trong ngày.

Nhựa trích từ nhiều loài thông được tinh chế như sau: đổ nhựa thu hoạch vào nước, đun nóng, cặn bã trong nhựa sẽ lắng xuống cùng với nước, gạn lấy nhựa tốt ở trên. Nhựa thông được dùng làm thuốc có độ đặc sền sệt, hơi có màu, mùi hăng đặc biệt, chứa tinh dầu. Để yên nhựa chia làm 2 lớp, lớp trên mỏng, trong, màu vàng sẫm. Lớp dưới lượng ít hơn nhưng màu đặc sánh. Khi dùng lắc đều.

Nhựa thông đã tinh chế lấy chất terpin được dụng làm thuốc ho và làm thuốc diệt khuẩn đường tiết niệu. Dùng riêng bôi nhựa thông một lớp thật mỏng để chữa ghẻ lở.

Chữa đau nhức khớp sưng tấy: Nhựa thông 40g, nhựa cây sau sau 40g, sáp ong 10g, đun nhỏ lửa khoảng 10 phút. Để nguội, phết lên giấy, dán lên chỗ sưng đau.

Chữa nhọt mủ: Nhựa thông vừa đủ với bồ hóng bếp, gai bồ kết, quả bồ hòn (đốt thành than) lượng bằng nhau, đánh nhuyễn thành dẻo quánh mềm, phết vào giấy làm cao để đắp lên nhọt mưng mủ.

Nhựa thông còn cho tinh dầu và tùng hương làm thuốc.

Thuốc chữa bệnh từ nhựa câyNhựa thông cho tinh dầu và tùng hương làm thuốc.

Tinh dầu (phần bay lên qua cất kéo hơi nước của nhựa thông đã tinh chế). Dùng chữa các bệnh ngoài da nhiễm khuẩn do tác dụng tiêu sưng, diệt khuẩn. Phối hợp với cồn long não, salixilat metyl làm thuốc xoa bóp chữa đau nhức.

Tùng hương (phần còn lại sau khi cất nhựa thông lấy tinh dầu): Tùng hương có vị đắng ngọt, mùi thơm, tính ôn. Có tác dụng khu phong diệt khuẩn, sinh cơ, giảm đau, chữa mụn, nhọt, ghẻ lở. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị khác (hoàng liên, hoàng cầm, khổ sâm, sà sàng tử, đại hoàng, khô phân…) để đắp lên mụn nhọt lâu ngày không khỏi.

Chữa băng huyết, nôn ra máu: Tùng hương đốt hứng lấy muội khói 10g hòa với 20g da trâu đã đun chảy để uống.

Chữa hen suyễn: Tùng hương 200g, tỏi 200g; dầu vừng 100g, riềng 100g, long não 4g. Nấu thành cao dán lên huyệt.

Nhựa hứng được từ lá lô hội: Sấy cho đặc lại hoặc ép lấy dịch lá, rồi cô cách thủy cho khô. Dược liệu là những cục nhựa có dạng tinh thể màu nâu đen óng ánh, hoặc màu ánh lục, khi khô thì giòn, vị rất đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt nhuận tràng, lợi gan mật, thông tiểu, chữa táo bón, khó tiêu.

Trị táo bón mạn tính: Lô hội 20g, chu sa 15g, cùng tán nhỏ, hòa với ít rượu làm viên. Mỗi lần uống 4g với rượu hoặc nước cơm, ngày 2 lần

Trị táo bón, tiểu đỏ, tiểu ít, hoa mắt, chóng mặt, nặng hơn thì co giật, phát cuồng, nói nhảm: Lô hội, đại hoàng, thanh đại (thủy phi), mỗi thứ 4g, đương quy, long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, hoàng bá, hoàng liên mỗi vị 6g, mộc hương 5,5g, xạ hương 0,3g (để riêng). Tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6-10g, ngày 3 lần.

Dùng ngoài, nhựa lô hội chưa chế biến đem bôi chữa bỏng, mẩn ngứa, côn trùng đốt. Người ta đã pha chế gel lô hội để điều trị vết thương phần mềm, viêm da thâm tím hoặc trầy xước, vảy nến, trứng cá, trĩ, bỏng do nhiệt ở độ I và độ II.

Chú ý : Không dùng gel lô hội bằng đường uống.

Không dùng lô hội trong những trường hợp viêm ruột, mất nước, co cứng cơ, đau bụng, viêm thận, nôn mửa. Trẻ em dưới 15 tuổi, phụ nữ có thai và đang cho con bú.

Nhựa sung – vị thuốc rất quý: cố GS. TS. Đỗ Tất Lợi có ghi lại công dụng của nhựa sung là để chữa các bệnh nhức đầu và bệnh ngoài da như chốc, nhọt, sưng đau, tụ máu.

Chữa mụn nhọt bắp chuối, chốc lở, tụ máu, sưng vú: Rửa sạch chỗ đau, lau khô. Lấy nhựa sung bôi trực tiếp vào chỗ đau. Có thể trộn nhựa sung với lá sung non, giã nát rồi đắp vào nơi tổn thương.

Đối với mụn chưa có mủ thì đắp kín, nếu mụn đã vỡ mủ, đắp để hở miệng. Khi đã có mủ, muốn lấy ngòi của mụn thì giã thêm 1 củ hành tươi trộn với nhựa sung rồi đắp lên trên, để hở miệng. Trong trường hợp sưng vú, đắp hở đầu vú. Khi ngã bị xây xước, đắp thuốc phải chừa chỗ xây xước, vết thương hở, chỉ đắp nơi sưng đỏ hoặc tím.

Trường hợp có nhiều mụn đỏ mọc trên mặt lấy khoảng 500g lá sung nấu nước xông, ngày một lần, dùng nước xông rửa nơi có mụn.

Trị đau đầu vùng thái dương: nhựa sung mới lấy, phết đều lên mặt của 2 mảnh giấy bản có đường kính khoảng 3cm, dán nhẹ vào 2 bên thái dương, sẽ có tác dụng giảm đau rõ rệt đồng thời có thể ăn 20 – 30g lá sung non hoặc uống khoảng 5ml nhựa sung tươi, hòa với nước sôi để nguội.

DS. Mai Thu Thủy

Tin liên quan
#nhựa cây

Sức Khỏe Đời Sống

Đương quy trị thiếu máu, đau nhức xương khớp

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Đương quy trị thiếu máu, đau nhức xương khớp
TS. Nguyễn Đức Quang – 13:50 20/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Đương quy còn có tên xuyên quy, là rễ đã phơi hay sấy khô của cây đương quy (Angelica sinensis (Oliv.) Diels.), thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Đương quy di thực đang trồng ở Việt Nam là loài (Angelica acutiloba (Sieb. Et Zucc.) Kitagawa.) có nguồn gốc từ Nhật Bản.

Về thành phần hóa học, đương quy chứa tinh dầu, coumarin, đường saccharose, acid amin, polyacetylen, sterol… Theo Đông y, đương quy vị ngọt cay, tính ôn; vào kinh tâm, can và tỳ. Có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh chỉ thống, nhuận tràng thông tiện. Dùng cho các trường hợp huyết hư (thiếu máu) đau đầu chóng mặt xây sẩm choáng váng, hồi hộp đánh trống ngực, kinh nguyệt không đều, thống kinh; phong thấp, đau bụng do tỳ vị hư hàn, đau nhức sưng nề, lở ngứa; là thuốc tốt cho người cao tuổi và phụ nữ sau sinh bị táo bón. Liều dùng cách dùng: ngày dùng 10 – 20g; bằng cách nấu, sắc, ướp, ngâm rượu…

Đương quy tác dụng bổ huyết hoạt huyết, điều kinh chỉ thống. Trị thiếu máu, kinh nguyệt không đều, đau nhức xương khớp...

Đương quy tác dụng bổ huyết hoạt huyết, điều kinh chỉ thống. Trị thiếu máu, kinh nguyệt không đều, đau nhức xương khớp…

Đương quy được dùng làm thuốc trong các trường hợp

Bổ huyết điều kinh: Trị kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, huyết hư kinh bế.

Bài 1: Cao Đương quy: cao long đương quy tỷ lệ 1/1. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 2 – 3ml.

Bài 2: Thang tứ vật: thục địa 20g, đương quy 12g, bạch thược 12g, xuyên khung 6g. Sắc uống.

Tán ứ giảm đau:

Thang phục nguyên hoạt huyết: sài hồ 20g, thiên hoa phấn 12g, đương quy 12g, hồng hoa 8g, xuyên sơn giáp 8g, cam thảo 4g, đại hoàng 12g, đào nhân 12g. Sắc uống. Trị các chứng té ngã sưng đau, ứ huyết, đau buốt hai bên sườn.

Hoạt lạc hiệu linh đơn: đan sâm 20g, đương quy 12g, nhũ hương 6g, một dược 6g. Sắc uống. Trị các chứng tim, bụng đau do huyết ứ khí trệ.

Nhuận táo thông tiện: Dùng trong trường hợp thiếu máu làm đại tràng không mềm ướt nên đại tiện táo.

Bài 1: đương quy (sao với dầu vừng): 40g, sắc uống.

Bài 2 – Hoàn Đương quy: quy vĩ 20g, đại hoàng 20g, đào nhân 63g, ma nhân 63g, khương hoạt 20g. Tất cả nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần 8g, chiêu với nước.

Một số thực đơn chữa bệnh có đương quy

Nước sắc đương qui – hoàng liên: đương qui 16g, hoàng liên 3g đập vụn, ngâm rượu. Sau 25 – 30 phút đem tất cả đun sôi cho uống. Dùng cho người bệnh đau mắt do tăng nhãn áp (thiên đầu thống).

Đương qui hầm rượu: đương qui 30g, rượu lượng thích hợp, đun sôi nhỏ lửa trong 15 phút, cho uống. Dùng cho người bị đau đầu dữ dội.

Canh đương qui thịt dê: đương qui 15g, hoàng kỳ 45g, đảng sâm 30g, thịt dê 400g. Các dược liệu cho vào túi vải xô, cùng nấu với thịt dê đến khi thịt dê chín nhừ, bỏ bã thuốc, thêm gia vị. Chia làm 2 lần ăn trong ngày. Dùng tốt cho người bị thiếu máu suy nhược, sau khi bị bênh lâu ngày cơ thể suy kiệt, hồi hộp đánh trống ngực, ăn kém.

Đương qui hầm gà: đương qui 30g, gà mái 1 con (làm sạch chặt khúc). Cho gà, đương qui, gừng, hành, gia vị đặt trong nồi, đậy kín. Đun trong 2 – 3 giờ. Dùng cho phụ nữ kinh nguyệt không đều, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực.

Đương qui tứ vị: đương qui 12 – 16g, thục địa 12g, long nhãn 9g, đại táo 30g, nước lượng thích hợp, đun nhỏ lửa. Gạn nước uống 2 – 3 lần trong ngày. Dùng tốt cho người bị đau đầu hoa mắt, chóng mặt, mỏi mệt, da xanh tái, hồi hộp mất ngủ, phụ nữ kinh nguyệt không đều.

Kiêng kỵ: Người có chứng tỳ thấp, tiêu chảy, nóng sốt (lao đang tiến triển, u thượng thận, bướu độc giáp trạng) không được dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Đương quy trị thiếu máu
#đau nhức xương khớp

Sức Khỏe Đời Sống

Bài thuốc kinh nghiệm trị ho mùa thu đông

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Bài thuốc kinh nghiệm trị ho mùa thu đông
TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng – 10:15 23/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Chứng ho Đông y gọi là khái thấu. Khái là ho nhưng không có đờm, bệnh phát ra từ thận. Thấu là không ho nhưng có nhiều đờm bệnh thường phát ra từ tỳ, tuy nhiên phần nhiều ho có đờm nên mới ghép hai từ lại với nhau gọi là khái thấu.

Đông y cho rằng “5 tạng, 6 phủ đều có thể làm cho người ta sinh ra chứng ho. Nhưng chủ yếu là do các tạng tỳ, phế, thận. Vì tỳ là nguồn gốc sinh ra đờm, phế là chỗ chứa đờm, phế với thận là tạng mẹ con, 3 tạng ấy có quan hệ với nhau rất chặt chẽ, cho nên khi bị bệnh là có liên quan với nhau”.

Chứng ho có 2 nguyên nhân: Ngoại nhân và nội nhân.

Ho do ngoại cảm

Mùa đông bị nhiễm lạnh, phong hàn nhập vào phế, làm cho phế khí ủng tắc lại, không tuyên thông.

Triệu chứng: Ho ngứa cổ, đờm loãng màu trắng, ngạt mũi, chảy nước mũi trong, sợ rét, phát sốt, đau đầu, đau mình mẩy, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn.

Điều trị: Tán phong hàn, tiêu đờm.

Bài thuốc Chỉ thấu tán: kinh giới 12g, tử uyển 12g, cát cánh (sao) 12g, bách bộ 12g, trần bì 8g, chích thảo 4g, sinh khương 12g.

Cách dùng: Ngày 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn, khi thuốc còn ấm.

Tuy là mùa đông, những hôm trời nắng nóng, bệnh nhân bị cảm phong nhiệt nung nấu tân dịch,  làm phế khí bế tắc sinh chứng ho.

Triệu chứng: Bệnh nhân ho nhiều đờm màu vàng nhưng khó khạc ra, mặt đỏ, miệng khát, sốt cao, ra mồ hôi, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.

Bài thuốc kinh nghiệm trị ho mùa thu đôngTử uyển trong bài thuốc Chỉ thấu tán trị ho mùa đông.

Điều trị: Tân lương giải biểu, trừ ho hóa đờm.

Bài thuốc Tang cúc ẩm gia giảm: tang diệp 12g, cúc hoa 6g, bạc hà 6g, lô căn 8g,  hạnh nhân 8g, cát cánh 8g, cam thảo 4g, liên kiều 8g.

Cách dùng: Ngày uống một thang đổ 3 bát nước sắc lấy 1,5 bát chia 2 lần uống trong ngày, uống trước khi ăn sáng và ăn tối, uống liên tục 5 ngày.

Bệnh thường xảy ra mùa đông nhưng trời nắng nóng cảm nhiễm thử thấp làm tắc các khiếu ở phế.

Triệu chứng: Ho đờm nhiều dễ khạc ra, sốt, khát nước nhưng không muốn uống, tâm phiền, lồng ngực đầy tức, mặt đỏ, tay chân nặng nề, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch nhu hoạt.

Điều trị: thanh nhiệt tiêu thấp hóa đờm trừ ho.

Bài thuốc Thanh lạc ẩm: lá sen tươi 8g, kim ngân hoa tươi 12g, vỏ xanh dưa hấu 12g, hoa đậu ván tươi 12g, xơ mướp 8g, trúc diệp tươi 8g

Cách dùng: Ngày uống 1thang đổ 3 bát nước sắc lấy 1,5 bát chia 2 lần uống trong ngày, uống trước khi ăn, uống liên tục 3 ngày.

Nếu thời tiết cuối thu do táo hỏa làm khô tân dịch ở phế sinh chứng ho khan.

Triệu chứng: ho khan không có đờm, nếu có ít đờm thì khó khạc ra, phiền khát, mặt đỏ, đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng,  mạch hồng sác.

Điều trị: thanh phế giáng hỏa.

Bài thuốc Hoàng liên giải độc thang: hoàng liên 12g, hoàng cầm 8g, hoàng bá 8g, chi tử 8g. Tùy theo chứng trạng của bệnh nhân có thể gia thêm các vị khác cho thích hợp.

Cách dùng: Ngày 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày.

Nếu bệnh ho đã lâu ngày dùng bài Thanh táo cứu phế thang: thanh cao 10g, tang diệp 12g, nhân sâm 6g, hạnh nhân 6g, chích thảo 4g, hồ ma nhân 6g, a giao 6g, mạch môn 6g, tỳ bà diệp 4g.

Cách dùng: Ngày uống một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, uống liên tục 15 thang.

Ho do nội nhân

Do vị hỏa xông lên phế sinh chứng ho đờm

Triệu chứng: Ho khi nặng, khi nhẹ, đờm dính ở cổ họng khạc khó ra, ngực sườn chướng đầy, lưỡi không có rêu, mạch huyền.

Điều trị: Khai thông phế khí, lợi đờm.

Bài thuốc Tô tử giáng khí thang: tô tử 10g, bán hạ 10g, nhục quế 6g, cam thảo 8g, đại táo 8g, tiền hồ 4g, hậu phác 4g, sinh khương 6g, trần bì 6g, đương quy 8g.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang sắc 3 lần uống 3 lần trước khi ăn.

Do lao động quá sức ăn uống sút kém tổn thương tỳ thổ không sinh ra phế kim mà ho

Triệu chứng: tiếng ho nhỏ, đờm nhiều dễ ra, ăn ít, mặt nhợt, nhiều mồ hôi, hơi thở ngắn, tinh thần mệt mỏi, sức yếu, nặng thì sinh chứng tiêu chảy, mạch hư vô lực. Nếu để lâu ngày không được điều trị sinh chứng hư lao.

Điều trị: Bổ thổ để sinh kim.

Bài thuốc Lục quân tử thang gia giảm: nhân sâm 12g, bạch truật 12g, phục linh 12g, cam thảo 8g, bán hạ (chế) 10g, trần bì 12g. Tùy chứng trạng của bệnh nhân gia giảm cho thích hợp.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày uống sau khi ăn khi thuốc còn ấm.

Người nghiện rượu, thuốc lá làm thận âm, can âm hư, hỏa bốc lên sinh ho.

Triệu chứng: Ho ít đờm, ngày ho ít đêm ho nhiều, họng khô, nóng về đêm, ra mồ hôi trộm, chất lưỡi đỏ sẩm, mạch tế sác.

Điều trị: Tư bổ thận âm can âm, giáng hỏa khu đờm.

Bài thuốc Lục vị hoàn gia vị hoặc bài Nguyệt hoa hoàn: thiên môn 8g, mạch môn 8g, sinh địa 12g, thục địa 12g, hoài sơn 12g, bách bộ 8g, sa sâm 12g, xuyên bối mẫu 8g, a giao 12g, phục linh 12g, tang diệp 12g, cúc hoa 12g.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, sau khi ăn.

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng

Tin liên quan

Vỏ rễ cây dâu trị ho suyễn do phế nhiệt, viêm thận

SKĐS – Cây dâu tằm được trồng khắp nơi từ rất lâu ở nước ta để làm thuốc, lấy quả và lấy lá nuôi tằm. Toàn bộ cây đều được sử dụng để làm thuốc. Vỏ rễ cây dâu phơi hay sấy khô còn có tên tang bạch bì.

Dùng thuốc trị ho khan hiệu quả

SKĐS – Ho khan là triệu chứng của nhiều bệnh, người bệnh cần được xác định căn nguyên gây ho khan để điều trị. Trong điều trị ho khan thường sử dụng nhiều loại thuốc, tùy từng trường hợp cụ thể bác sĩ lựa chọn thuốc chữa ho khan phù hợp.

Dược thiện lợi phế, trị ho

SKĐS – Ô nhiễm không khí cùng các loại virus mới xuất hiện đang trở thành mối quan tâm của cộng đồng và là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sức khỏe gây ra các bệnh đường hô hấp.

Dùng thuốc trị ho có đờm

SKĐS – Tôi năm nay 37 tuổi. 1 tuần nay tôi bị ho, có đờm trong cổ. Tôi đã uống chanh mật ong nhưng không đỡ. Xin hỏi có thuốc trị hết loại ho này không?

#Bài thuốc kinh nghiệm trị ho mùa thu đông

Sức Khỏe Đời Sống

Cốc nha – vị thuốc kiện tỳ, dưỡng vị

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Cốc nha – vị thuốc kiện tỳ, dưỡng vị
TS. Nguyễn Đức Quang – 12:23 25/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Cốc nha là hạt chín già đã mọc mầm, phơi khô của cây lúa tẻ, họ lúa. Cốc nha chứa tinh bột, chất béo, protid, đường maltose, saccarose, vitamin B, C và nhiều men amylaza, maltaza, diastaza, invertaza, lipaza, peptidaza, proteaza… Mạch nha là mầm.

Theo Đông y, cốc nha vị ngọt tính ôn; vào kinh tỳ và vị. Mạch nha và cốc nha có tác dụng kiện vị, giúp tiêu hóa như nhau; nhưng tác dụng giúp tiêu hóa của mầm mạch mạnh hơn, tác dụng dưỡng vị của mầm lúa mạnh hơn; do đó, người ta thường kết hợp 2 vị này để điều trị bệnh đường tiêu hóa. Liều dùng: 12-20g. Dùng sống hoặc sao qua.

Một số đơn thuốc có cốc nha:

Tiêu thực hóa tích: Dùng khi thức ăn tích trệ không tiêu, bụng trướng đau.

Bài 1: mầm lúa sao 12g, mầm mạch sao 12g, sơn tra sao xém 12g, thần khúc sao xém 12g, lai phục tử 8g. Sắc uống. Trị thức ăn tích trệ không tiêu, bụng trướng, miệng hôi.

Bài 2: mầm lúa 12g, thương truật 8g, kê nội kim 8g, cam thảo 8g. Sắc uống. Trị tiêu hóa không tốt, ăn không ngon miệng.

Bài 3: cốc nha 20g, hoàng liên 20g, bạch truật 20g, đảng sâm 16g, quả giun 16g, thần khúc 16g, sơn tra 12g, phục linh 12g, lô hội 6g, cam thảo chích 6g. Sấy khô, tán bột làm viên. Ngày uống 10-12g. Chữa tích trệ tiêu hóa do giun.

Khai vị ăn ngon: Dùng khi tỳ vị hư nhược, kém ăn.

Hoàn cốc thần: mầm lúa 20g, cam thảo 8g, sa nhân 4g, bạch truật 12g. Sắc uống. Trị tỳ vị hư nhược, tiêu hóa không tốt, nôn, tiêu chảy, kém ăn.

Lợi sữa: mạch nha 60g, tán mịn, uống với nước sôi. Dùng cho các sản phụ sau đẻ ứ tắc sữa, ít sữa.

Món ăn thuốc có mầm mạch chữa bệnh:

Bánh khảo mạch nha sơn tra: cốc nha 50g, mạch nha 50g, sơn tra 50g, bột gạo rang 150g, đường trắng 75g. Sao giòn hoặc sấy khô, tán mịn; trộn đều hòa với mật ong, ép thành bánh cho ăn thường ngày. Dùng cho trẻ em ăn kém, chậm tiêu, chậm lớn.

Cháo mạch nha: mạch nha 60g, gạo 60g. Mạch nha sao qua, sắc lấy nước; đem nước mạch nha nấu với gạo thành cháo. Ngày ăn 1 lần. Đợt dùng liền 3 ngày. Dùng cho sản phụ sau đẻ bị viêm vú (áp-xe vú) ứ tắc sữa, vỡ mủ, sốt.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Cốc nha – vị thuốc kiện tỳ
#dưỡng vị

Sức Khỏe Đời Sống

Nghệ: Vị thuốc giúp lợi mật, chống viêm

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Nghệ: Vị thuốc giúp lợi mật, chống viêm
TS.BS. Dương Trọng Hiếu – 11:30 31/10/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Nghệ đã được sử dụng trong các bài thuốc Đông y với nhiều công dụng khác nhau chữa các cơn đau do khí trệ; đau dạ dày, ợ chua, ăn kém đầy bụng; Nghệ có công dụng lợi mật, dùng trong các bệnh viêm gan vàng da.

Thành phần chính của củ nghệ là chất màu curcumin. Tinh chất curcumin là chất có hoạt tính chống viêm cao có tác dụng hỗ trợ quá trình tiêu hoá lượng thức ăn thích hợp. Nghệ có thể bảo vệ niêm mạc đường ruột và đường tiêu hoá, ức chế sự tạo khí, làm tăng lượng chất nhầy trong dịch vị, chống tổn thương viêm loét, ngăn chăn sự hình thành của loét dạ dày và tá tràng.

Đông y chia nghệ làm 2 loại: nghệ vàng (củ cái gọi là khương hoàng, củ con gọi là uất kim) và nghệ tím (nga truật)

Khương hoàng: là củ cái của phơi khô của cây nghệ (Curcuma longa L.) họ gừng (Gingiberaceae). Vị cay, đắng tính ấm vào kinh tâm, can tỳ. Tác dụng: Phá huyết hành ứ, thông kinh chỉ thống, dùng điều kinh, chữa kinh nguyệt không đều, đau dạ dày, ợ chua, ăn kém, đầy bụng, hỗ trợ điều trị viêm gan, vàng da

Bài thuốc: Khương hoàng 8g, hoàng liên 6g, nhục quế 3g, diên hồ sách 12g, uất kim 3g, nhân trần 12g. Sắc nước uống điều trị viêm dạ dày, viêm đường mật, bụng trướng, nôn mửa.

Nghệ tán bột dùng với mật ong ăn chữa đau dạ dày.

Nghệ tán bột dùng với mật ong ăn chữa đau dạ dày.

Uất kim: là củ nhánh con của cây nghệ (Curcuma longa L.) họ gừng (Zingiberaceae). Vị cay đắng tính lạnh vào kinh tâm, phế, can. Tác dụng hành huyết phá ứ, hành khí giải uất, lợi đởm thoái hoàng chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh, thống kinh; Hành khí giải uất: Chữa các cơn đau do khí trệ như đau dạ dày, ngực bụng đầy trướng. Thanh can đởm thấp nhiệt: Chữa viêm gan hoàng đản, xơ gan, viêm túi mật, sỏi mật. Ngày dùng 6g – 12g (dùng sống)

Bài thuốc: Bột uất kim hằng ngày uống 6g với nước sắc đảng sâm 12g uống hàng ngày trị sỏi mật.

Hoặc dùng bài: Kim tiền thảo 30g, màng mề gà 6g, uất kim 9g, kim ngân hoa 15g, đại hoàng sống 3g, chỉ thực 12g, nhân trần 30g. Ngày 1 thang, sắc 2 lần, uống sáng và chiều chữa viêm đường mật và sỏi mật.

Nga truật: là thân rễ phơi khô của cây nghệ tím (Curcuma zedoaria). Vị đắng, cay, tính ôn, vào can kinh. Tác dụng hành khí, phá huyết, tiêu tích hóa thực.

Chữa bệnh đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc và loét hành tá tràng, ăn uống chậm tiêu, thường đau bụng không rõ nguyên nhân, buồn nôn, ho, kinh nguyệt không đều. Còn dùng làm thuốc bổ dưới dạng thuốc sắc, bột hoặc viên, có thể cho thêm mật ong.

Bài thuốc: Nga truật, tam lăng đều 5g, trần bì 10g, chế hương phụ 6g, la bạc tử 5g, sa nhân 3g, thanh bì, chỉ thực đều 6g, hồ hoàng liên, lô hội đều 3g, hồ tiêu 5g. Tất cả tán bột mịn trộn đều hồ hoàn, mỗi lần uống 3 – 6g, ngày 2 lần có tác dụng kích thích tiêu hóa.

Ngoài ra các loại nghệ trên đều có thể tán bột dùng chung với mật ong ăn trực tiếp hoặc làm thành viên hoàn uống hằng ngày chữa đau dạ dày.

TS.BS. Dương Trọng Hiếu

Tin liên quan
#Nghệ: Vị thuốc giúp lợi mật
#chống viêm

Sức Khỏe Đời Sống

Bạch chỉ khu phong, trừ thấp

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Bạch chỉ khu phong, trừ thấp
TS. Nguyễn Đức Quang – 11:36 01/11/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Bạch chỉ là rễ của cây bạch chỉ hay xuyên bạch chỉ, thuộc họ hoa tán. Bạch chỉ có tinh dầu, các chất coumarrin.

Theo Đông y, bạch chỉ vị cay, tính ôn; vào các kinh phế, vị và đại trường. Có tác dụng khu phong trừ thấp, thông khiếu, chỉ thống, tiêu thũng bài nùng. Trị chứng ngoại cảm gây đau đầu, đau vai lưng, đau răng, đau xoang mũi, phong thấp tý thống; ngứa ngoài da, phụ nữ bạch đới, chứng sang dương nhọt độc. Liều dùng: 4-12g. Sau đây là một số bài thuốc có bạch chỉ.

Tán hàn, giải biểu, trị đau đầu do cảm mạo

Bài 1: bạch chỉ 12g, xuyên khung 4g, phòng phong 12g, khương hoạt 8g, hoàng cầm 8g, sài hồ 8g, kinh giới 8g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị đau đầu do cảm mạo.

Bài 2 – Xuyên khung trà điều tán: bạch chỉ 4g, xuyên khung 8g, kinh giới 8g, bạc hà 16g, khương hoạt 4g, tế tân 2g, phòng phong 3g. Các vị tán bột. Ngày uống 24g, uống với nước trà, sau bữa ăn 1-2 giờ. Trị đau đầu, nửa đầu đau do phong hàn.

Trừ phong, giảm đau

Bài 1 – Hoàn đô lương: bạch chỉ nghiền bột mịn, làm thành hoàn. Mỗi lần uống 6-12g, chiêu với nước. Trị đau vùng trán.

Bài 2: bạch chỉ 12g, thương nhĩ 12g, tân di 12g, bạc hà 6g. Tất cả tán thành bột. Mỗi lần uống 6-12g, chiêu với nước. Trị viêm mũi sinh ra đau đầu.

Bài 3: kinh giới 12g, phòng phong 12g, bạch chỉ 12g, thạch cao sống 20g. Sắc uống. Trị đau do sưng lợi răng.

Giải độc, trị nhọt: Khi nhọt độc sưng phù hoặc khi rắn cắn.

Bài 1: bạch chỉ 12g, địa đinh hoa tím 12g, liên kiều 12g, qua lâu 12g, bối mẫu 12g, bồ công anh 16g, kim ngân hoa 16g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị viêm tuyến sữa và mụn nhọt.

Bài 2 – Bột bạch chỉ hộ tâm: bạch chỉ 0,4g, hùng hoàng 0,4g, nhũ hương 0,4g. Tất cả tán thành bột mịn, pha với rượu nóng rồi uống. Trị độc do rắn rết cắn.

Trị phụ nữ bạch đới do hàn thấp: Bạch chỉ và hải phiêu tiêu, liều lượng bằng nhau, tán thành bột. Mỗi lần uống 12g.

Trị táo bón hay đi tả do phong độc: bột bạch chỉ 8g trộn với nước cơm và ít mật ong cho uống.

Trị đi tiểu ra máu: bạch chỉ, đương quy, liều lượng bằng nhau. Mỗi lần uống 8g.

Trị bế kinh do phong hàn: quế chi 8g, tô ngạnh 8g, bạch chỉ 8g, đan sâm 12g, xuyên khung 10g, uất kim 8g, nga truật 8g, ngưu tất 10g. Sắc uống. Trị kinh nguyệt mất mấy tháng, bụng dưới lạnh đau, tay chân không ấm, tức ngực, buồn nôn, rêu lưỡi trắng, mạch trầm khẩn.

Trị đau răng do phong nhiệt: bạch chỉ, ngô thù du, liều lượng bằng nhau. Các vị nghiền bột, hòa với ít nước để ngậm.

Trị chân răng hôi: bạch chỉ, xuyên khung, hai vị bằng nhau. Tán bột, làm viên, viên bằng hạt ngô. Ngậm 2-3 viên trong ngày.

Kiêng kỵ: Người đau đầu do huyết hư hỏa vượng, ung nhọt mới vỡ kiêng dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Bạch chỉ khu phong
#trừ thấp

Sức Khỏe Đời Sống

Thuốc từ cây mào gà trắng

Bài Thuốc Quanh Ta

Thanh tương tử chứa dầu béo, nitratkali, acid nicotinic (vitamin PP). Theo Đông y, hạt có vị đắng, tính hơi hàn; vào kinh can. Tác dụng thanh can minh mục, sơ phong thanh nhiệt làm mát gan sáng mắt. Hoa vị nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, mát huyết, cầm máu, tiêu viêm. Thanh tương tử dùng làm thuốc trị mắt đỏ đau sưng nề, kéo màng, lở ngứa ngoài da. Ngày dùng 10-20g; bằng cách nấu, hầm, sắc.

Lá cây có tác dụng trị viêm phế quản, hen phế quản, viêm dạ dày ruột. Dùng nước sắc để tắm trị mẩn ngứa ngoài da, mề đay, sưng mủ, trĩ xuất huyết.

Một số bài thuốc có thanh tương tử

Mát gan, sáng mắt: Trị chứng hỏa ở can bốc lên làm cho mắt đỏ sưng đau, mắt có màng, nhìn mờ.

Bài 1: thanh tương tử 20g, cốc tinh thảo 20g. Sắc uống. Trị mắt kéo màng, nhìn mờ.

Bài 2: thanh tương tử 12g, mật mông hoa 12g, cúc hoa 12g. Sắc uống. Trị viêm màng tiếp hợp cấp tính, mắt đỏ, sợ ánh sáng.

Bài 3: thanh tương tử 12g, tang diệp 12g, cúc hoa 12g, mộc tặc 12g, long đởm thảo 4g. Sắc uống. Trị nhiệt ở gan sinh ra đau mắt đỏ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, nhức đầu…

Bài 4: hạt mào gà, lá dâu, cúc hoa, cỏ tháp bút, mỗi vị 12g; cỏ thanh ngâm 4g. Sắc uống và xông. Chữa mắt sưng đau, chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, đau đầu.

Chữa trĩ ra máu: Hạt và hoa mào gà 15g. Sắc uống trong ngày.

Chữa hen phế quản: lá mào gà trắng, lá bồng bồng, lá xương sông, dây tơ hồng (sao), mỗi vị 20g. Sắc uống.

Thanh tương tử còn trị tăng huyết áp, đầu váng mắt hoa, phụ nữ sau đẻ đau bụng máu hôi không ra hết.

Thực đơn có thanh tương tử

Thanh tương tử hầm gan gà: thanh tương tử 15g, gan gà 1 – 3 bộ, thêm bột gia vị hầm chín ăn. Dùng cho người đau mắt đỏ do viêm kết giác mạc, chảy nước mắt.

Nước thanh tương tử đại táo: thanh tương tử 15g, đại táo 30g; hãm nước sôi, uống trước khi ăn. Dùng tốt cho người bị quáng gà, giảm thị lực.

Kiêng kỵ: thanh tương tử thanh nhiệt rất mạnh, có tác dụng mở đồng tử; người can thận hư và đồng tử mở rộng không dùng.

BS. Tiểu Lan

Sức Khỏe Đời Sống

Hoa cúc: Giúp thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt…

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Hoa cúc: Giúp thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt…
Hoa cúcDS. BÀNG CẨM – 16:02 23/03/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Ngày nay, để chăm sóc sức khỏe, sử dụng thức uống từ thảo mộc là một xu thế mới mà người tiêu dùng đang hướng tới.

Đông y đã nghiên cứu thanh nhiệt, giải độc, làm mát gan, sáng mắt… là những tính năng hữu ích thiên nhiên. Hoa cúc là một trong những loại thường dùng trong Đông y. Hoa có tên khoa học là Flos Chrysanthemi, thuộc họ cúc- asteraceae.

Công dụng của hoa cúc

Hoa cúc trắng (bạch cúc) có vị ngọt, hơi đắng, tính hàn. Có tác dụng tán phong, thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt, chữa phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, tăng huyết áp, chóng mặt, nhức đầu, mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt. Hoa cúc vàng (hoàng cúc) có vị đắng, cay, tính hơi ấm, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sưng đau, đau mắt đỏ, đau đầu chóng mặt, chữa cảm lạnh, cúm, viêm mũi, viêm da mủ, viêm tuyến vú, hoa mắt, tăng huyết áp, viêm gan, kiết lỵ, chảy nước mắt nhiều.

Hoa cúc

Bài thuốc có hoa cúc

Đau đầu do phong nhiệt: Hoa cúc 15g, lá dâu 12g, liên kiều 10g, bạc hà 10g, sắc uống. Hoa cúc 10g, xuyên khung 10g, thạch cao 6g. Tất cả tán mịn, mỗi lần uống 5g với nước trà.

Tăng huyết áp: Hoa cúc trắng 20g, táo đỏ 3 quả, sắc uống. Hoa cúc trắng 15g, hoa hòe 10g, đậu phộng 5g, sắc uống ngày 1 thang, dùng liền 15 ngày. Cúc hoa 30g, kim ngân hoa 30g (người bị chóng mặt nhiều thêm lá dâu 12g, người bị xơ cứng động mạch, cholesterol máu cao thêm 25g sơn tra thái nhỏ) trộn đều, chia 4 phần dùng nước sôi để hãm trong 15 phút dùng uống thay trà, không được đun vì sẽ phá hủy các thành phần có tác dụng.

Chứng mất ngủ, thần kinh căng thẳng: Hoa cúc 1 kg, xuyên khung 400g, đơn bì 200g, bạch chỉ 200g, trộn đều, dùng làm ruột gối để nằm, mỗi gối có thể nằm liên tục trong 6 tháng.

Chứng mờ mắt do can thận suy yếu: Hoa cúc 10g, câu kỷ tử 10g, thục địa 15g, sắc uống.

Bệnh mạch vành: Hoa cúc trắng 300g, dùng nước ấm ngâm qua đêm, hôm sau sắc 2 lần (với hơn 1 lít nước), mỗi lần sắc 30 phút, chờ sau khi lắng đọng, bỏ bã, lại nấu cô còn 500ml. Chia 2 lần uống, lần 250ml, hai tháng là 1 liệu trình. Hoa cúc 40g, thêm 250ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày, hai tháng là 1 liệu trình. Tam thất, đẳng sâm, đơn sâm, hoa cúc trắng hãm với nước sôi trong 15 phút rồi uống. Với người hồi hộp và tức ngực thì dùng nhiều đảng sâm và hoa cúc trắng. Người đau ngực dùng nhiều đơn sâm và tam thất. Người tăng huyết áp, dùng nhiều hoa cúc, ít đảng sâm.

Hoa mắt, chóng mặt: Hoa cúc trắng 15g, hoa thiên lý 15g, ngải cứu 10g, rau má 10g, lá đinh lăng 10g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày, uống liền 1 tuần.

Bổ máu, sáng mắt: Hoa cúc 30g, lá dâu phơi sương 30g, dùng nước nấu kỹ, bỏ bã, lại nấu đặc, cho ít mật ong cô thành dạng cao, mỗi lần uống 15g với nước đun sôi để nguội.

Mụn cóc: Hoa cúc 50g, dùng rượu trắng 40 độ 150ml ngâm trong 3 ngày, bỏ bã, thêm nước vừa đủ, tiềm với đường phèn, ngày 1 lần, dùng liền 3 ngày là 1 liệu trình. Ngưng thuốc, theo dõi trong 3 ngày, nếu chưa thấy hiệu quả thì dùng tiếp liệu trình thứ hai.

Viêm tuyến vú: Hoa cúc vàng 30g, kim ngân hoa 15g, bồ công anh 15g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày, uống cho đến lúc lành bệnh.

Hoa cúc

Làm đẹp bằng hoa cúc
Nước hoa cúc: Hoa cúc tươi 50g sau khi hãm nước sôi 15 phút, thêm ít mật ong. Có thể hãm 2 lần, uống ấm. Có tác dụng làm đẹp sáng mắt và sống lâu.

Cháo hoa cúc: Hoa cúc 20g, gạo tẻ 100g. Gạo vo sạch dùng lửa nhỏ nấu cháo, thêm hoa cúc đã rửa sạch nấu trong 5 phút. Có tác dụng nuôi dưỡng gan huyết, làm đẹp.

Trà hoa cúc: Hoa cúc vừa đủ. Sau khi dùng nước sôi hãm 15 phút, để nguội, dùng rửa chỗ mắt bị phù, ngày 1 – 2 lần. Công hiệu thanh nhiệt, sáng mắt, chống phù.

Nước hoa cúc, đại hoàng: Hoa cúc 15g, hoa mai 10g, kim ngân hoa 10g, đơn sâm 10g, bạch chỉ 10g, đại hoàng 10g, tất cả sắc lấy nước cốt, chứa trong lọ, sử dụng sau. Dùng gạc tiệt trùng thấm nước thuốc đắp nóng tại chỗ, ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút. Công hiệu thanh nhiệt giải độc, hành khí giải uất (chống ứ tắc), chữa mụn trứng cá.

Bột hoa cúc, phục linh: Hoa cúc trắng 1 kg, bạch phục linh 0,5kg. Hai vị thuốc tán bột thật mịn. Mỗi lần dùng 10g uống với rượu ấm trước bữa ăn, ngày 3 lần. Công hiệu dưỡng nhan sắc. Thích hợp cho người có sắc mặt tiều tụy.

 

Hoa cúcDS. BÀNG CẨM

Tin liên quan

Hoa cúc trắng chữa hoa mắt, chóng mặt

Hoa cúc được trồng phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu. Ngoài việc làm cảnh, dùng làm trà uống, hoa cúc còn có tác dụng làm thuốc chữa bệnh. Cúc hoa trắng chỉ to bằng cái khuy áo, còn tên gọi là bạch cúc.

Hoa cúc chống oxy hóa, kháng khuẩn

SKĐS – Hoa cúc là một loại thảo dược đa tác dụng, được sử dụng như một phương thuốc truyền thống từ hàng ngàn năm nay để trị rất nhiều sự rối loạn về sức khỏe. Loại dược liệu này có thuộc tính chống oxy hóa và kháng khuẩn, có tác dụng chữa và phòng nhiều bệnh.

Chữa bệnh bằng hoa cúc ngày Tết

SKĐS – Theo các chuyên gia phong thủy, cúc là loài hoa tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp, trường thọ, phúc lộc và niềm an vui.

Hoa cúc: Kháng khuẩn, tiêu viêm

SKĐS – Hoa cúc rất đa dạng và phong phú trong đó cúc vạn thọ, cúc hoa vàng, cúc hoa trắng dung dị, mộc mạc nhưng đều có những đóng góp nhất định trong việc bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật.

#Hoa cúc
#thanh nhiệt
#sáng mắt

Sức Khỏe Đời Sống

Tăng cường đề kháng, bổ thận tráng dương nhờ kim anh tử

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Tăng cường đề kháng, bổ thận tráng dương nhờ kim anh tử
DS. Mai Thủy – 07:00 28/03/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Cây kim anh tên khác là thích lê tử, đường quán tử. Tránh nhầm lẫn với một loài cây gọi là kim anh hoa đỏ. Cây này không được dùng làm thuốc.


Đông y dùng quả kim anh làm thuốc bổ thận, ích tinh, tráng dương, thu liễm, chỉ tả. Quả kim anh hái về chà xát sao cho rụng hết gai rồi bổ đôi, nạo sạch hạt và lớp lông tơ bên trong quả, phơi hoặc sấy khô (không để sót hạt). Dược liệu có vị chua chát, hơi ngọt, tính bình, với liều dùng hằng ngày là 6-12g dưới dạng thuốc bột hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác trong trường hợp phong thấp, thận hư, viêm ruột, suy nhược thần kinh…

Chữa thận hư, liệt dương, di tinh: kim anh 15g, ba kích 12g, thục địa 12g, sơn thù du 12g. Tất cả phơi khô, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa tiểu đường, di tinh: kim anh, thạch hộc, mạch môn, sa sâm, khiếm thực, liên nhục, mỗi vị 12g, quy bản 8g, sắc uống ngày 1 thang.

Hoặc dùng bài: kim anh 16g, thạch hộc 16g, sắc uống với bột hoài sơn, khiếm thực, mỗi vị 12g, chia làm 3 lần trong ngày.

Chữa suy nhược thần kinh, di mộng tinh, hoạt tinh, viêm ruột: kim anh 500g, ba kích 250g, tua sen 50g. Kim anh và ba kích thái mỏng, sao vàng, tán nhỏ cho vào một túi vải cùng với tua sen, sắc kỹ với 3 lít nước lấy 1 lít, lọc kỹ, để riêng, tiếp tục sắc với 2 lít nước nữa cho đến khi còn 0,5 lít, lọc lấy nước, bỏ bã. Trộn 2 nước, thêm đường, khuấy tan, cô đặc còn 1 lít là được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml.

Hoặc dùng bài: kim anh 100g, khiếm thực 100g, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật hoàn viên. Ngày uống 8-12g.

Chữa tiểu són, tiểu rắt: kim anh 10g, tang phiêu tiêu 10g, tua sen 10g, sơn dược 12g. Sắc uống.

Chữa tỳ hư, đại tiện lỏng: kim anh 10g, phục linh 10g, đẳng sâm 10g, bạch truật 10g, hạt sen 15g. Sắc uống trong ngày.

Chữa ra mồ hôi trộm, ù tai, chân tay tê mỏi: cao quả kim anh 184g, hoàng bá, khiếm thực, mỗi thứ 180g; sa sâm nam, sơn dược, mỗi thứ 120g; hạt sen, tỏa dương, táo nhân, mạch môn, liên tu, tri mẫu, long cốt, mẫu lệ, mỗi thứ 75g. Tất cả tán bột, rây mịn, trộn đều, hoàn viên. Ngày uống 6g.   

Ngoài ra rễ và lá kim anh cũng được dùng làm thuốc. Rễ rửa sạch, bỏ lớp vỏ đen bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, ngâm rượu cho đặc để càng lâu càng tốt, chữa chứng phong tê bại, đau nhức chân tay (Nam dược thần hiệu), Lá cây kim anh, dùng ngoài, giã nát đắp vào nơi tổn thương sưng tấy, lở loét, bỏng.     

  

DS. Mai Thủy

Tin liên quan
#Tăng cường đề kháng
#bổ thận tráng dương nhờ kim anh tử

Sức Khỏe Đời Sống

Món ăn thuốc từ khoai môn, khoai sọ

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Món ăn thuốc từ khoai môn, khoai sọ
TS. Nguyễn Đức Quang – 15:04 31/03/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Khoai môn, khoai sọ ở Việt Nam có nhiều giống. Sự khác biệt giữa các giống ở hình thái và phẩm chất và có tên gọi khác: khoai sọ trắng, khoai sọ nghệ, khoai sọ sớm, khoai sọ muộn, dọc tía, dọc xanh, dọc tím…

hay môn hương, môn tía, môn riềng, môn đốm… Khoai môn, khoai sọ đồ chín là thực phẩm giàu năng lượng. Khoai Lệ Phố là loại khoai ngon danh bất hư truyền.

Khoai môn, khoai sọ có tên khoa học: Colocasia antiquorum Schott., họ Ráy (Araceae). Bộ phận dùng là thân củ, lá.

Khoai môn, khoai sọ chứa tinh bột 69-74%, lipid 0,47-0,68% (có nhiều loại acid béo chưa no), các loại đường glucose, galactose, arabinose; chất xơ, các sinh tố, khoáng chất (Fe, Ca, P), khoảng 17 loại acid amin và chất gây ngứa. Củ khoai sọ có giá trị dinh dưỡng gấp 1,5 lần khoai tây. Khoai sọ có nhiều alkaloid có tác dụng kháng khuẩn, sát trùng, các chất xơ giúp tăng nhu động của ruột và tác dụng nhuận tràng chống táo bón; các acid béo chưa no linoleic và linolenic có tác dụng làm hạ huyết áp, giãn mạch, làm giảm nồng độ cholesterol huyết.

Canh cua nấu khoai môn khoai sọ rau rút chữa phát ban dị ứng, mất ngủ, làm giảm mệt mỏi.

Canh cua nấu khoai môn khoai sọ rau rút chữa phát ban dị ứng, mất ngủ, làm giảm mệt mỏi.

Theo Đông y, lá khoai môn, khoai sọ có vị cay, tính bình, có độc; củ khoai vị ngọt cay, tính bình; vào tỳ thận. Công năng ích khí bổ thận, phá huyết tán kết, khu phong, chỉ thống, trừ đàm tiêu thũng. Dùng cho người bị phát ban dị ứng mẩn ngứa, sa trực tràng, lỵ mạn tính, viêm sưng hạch (lao hạch), chấn thương đụng giập, gãy xương chảy máu do chấn thương, viêm sưng khớp do phong thấp, đau dạ dày, mụn nhọt, rắn cắn, lao phổi, ung thư họng, ung thư gan, bướu giáp… Liều dùng cách dùng: 60-120g; nấu hầm, giã đắp ngoài.

Bài thuốc chữa bệnh từ khoai sọ, khoai môn:

Chữa tiêu chảy, lỵ: lá khoai sọ 30g, củ cà rốt 30g, tỏi vài nhánh. Sắc uống.

Chữa mụn nhọt, đầu đinh: củ khoai tươi và giấm, liều lượng bằng nhau, đun sôi và nghiền nát, đắp vào chỗ đau.

Chữa vết thương kín sưng nề: khoai sọ 120g, hành sống 3 củ. Hai thứ giã nát, thêm chút rượu trộn đều, bôi đắp qua gạc mỏng trên chỗ đụng giập chấn thương kín có sưng nề bầm tím. Tác dụng hoạt huyết tiêu viêm.              

Trị rắn cắn, ong đốt: lá khoai tươi giã nát, đắp vào chỗ đau.

Chữa mề đay: bẹ lá khoai 60g, rễ cây tai chuột 30g, hồng táo 30g, đường đỏ 30g. Sắc uống.

Một số món ăn thuốc có khoai môn, khoai sọ:

Xương lợn hầm khoai môn: khoai môn 60g, xương cẳng hoặc xương sống lợn 100g. Khoai gọt vỏ rửa sạch, xương lợn chặt thành đoạn ngắn, rửa sạch, thêm bột gia vị đun nhỏ lửa trong 2 giờ. Ăn ngày 2 lần. Tác dụng khu phong trừ thấp. Dùng tốt cho người bị nổi ban dị ứng, đau nhức tay chân.

Canh cua khoai môn, khoai sọ: cua đồng 200g, khoai môn 60g, rau rút 1 mớ. Cua đồng bỏ yếm và mai, rửa sạch giã nát, lọc lấy nước, cho mắm muối vừa ăn; khoai sọ cạo bỏ vỏ, rửa sạch bổ miếng vừa ăn, rau rút lấy phần lá, cọng non, bỏ rễ và bấc ngắt đoạn, rửa sạch. Cho khoai vào nước cua, nấu đến khi khoai chín nhừ, cho rau rút vào, đun vừa chín là được. Ăn trong ngày; dùng liền 2-3 ngày. Tác dụng ích khí bổ thận, trừ đàm, tiêu thũng, khu phong, chỉ thống, giải nhiệt, chữa phát ban dị ứng mẩn ngứa, dễ ngủ, bớt mệt mỏi.

Nước sắc khoai sọ củ khởi: khoai sọ 15-20g, rễ kỷ tử 50g. Hai thứ rửa sạch, nấu sắc trong 2 giờ, gạn lấy nước trong uống ngày 1 lần. Uống liên tục 60 ngày. Tác dụng thông hầu hang, kháng độc. Dùng tốt cho bệnh nhân bị u bướu vùng hầu họng.

Bẹ khoai nấu giấm (kinh nghiệm dân gian): bẹ lá khoai nấu giấm với cá, ốc, thịt hoặc muối dưa. Tác dụng liễm hãn, chỉ tả, tiêu thũng độc.

Củ khoai sọ nấu cá (kinh nghiệm dân gian): củ khoai sọ nấu với cá quả hay cá diếc. Tác dụng điều hòa nội tạng, hạ khí đầy, chữa hư lao yếu sức.

Chú ý: Các món ăn từ khoai sọ, khoai môn đều phải nấu chín kỹ để tránh gây ngứa.       

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Món ăn thuốc từ khoai môn
#khoai sọ

Sức Khỏe Đời Sống

Vừng trừ phong thấp, ích trí 

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Vừng trừ phong thấp, ích trí 
BS. Lê Thanh Hương – 15:19 04/04/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Vừng là một loại thức ăn ngon, bổ dưỡng, tuy dân dã nhưng có công dụng bảo vệ và tăng cường sức khỏe:  hỗ trợ làm đen tóc tự nhiên,  tốt cho hệ tiêu hóa, nhuận tràng, chữa khó tiêu. Vừng là nguồn cung cấp vitamin B và bổ sung canxi cho cơ thể, phòng chống bệnh tiểu đường, thoái hóa khớp và ngừa bệnh tim.

Vừng trắng có thành phần chất béo và chất đạm, dầu vừng trắng rất giàu omega-3. Nhờ vậy, có tác dụng giảm cholesterol, hạ huyết áp và cải thiện trí nhớ. Hợp chất sesamin và sesamolin trong vừng trắng giúp bảo vệ gan và hạ huyết áp. Vừng trắng chứa chất xơ giúp ngăn ngừa táo bón hiệu quả. Do chứa nhiều vitamin E, B1, sắt, magie, và nhiều khoáng chất, vừng trắng có tác dụng bổ ích cho xương tủy, dịch khớp.

Vừng đen chứa nhiều chất như đồng, sắt, canxi và nhiều chất xơ. Trong vừng đen  chứa 2 hợp chất sesamin và sesamolin  có lợi cho sức khỏe. Những dưỡng chất là chất đạm, lipit, gluxit, canxi, các loại vitamin như: B1, niacin, vitamin E trong vừng đen giúp sáng mắt, bổ trí não, chống oxy hóa, tăng cường miễn dịch, ngăn ngừa lão hóa. Giúp giảm cholesterol và lượng đường huyết trong cơ thể, tăng cường sức khỏe tim mạch, ngăn ngừa các tổn thương xơ vữa động mạch.

Vừng trừ phong thấp, ích trí Vừng đen có tác dụng bổ gan, bổ thận, lương huyết, giải độc.

 Trong y học cổ truyền, vừng đen tính bình, vị ngọt, lợi về kinh gan, thận, đại tràng. Có tác dụng bổ gan, bổ thận, lương huyết, giải độc. Dùng chữa các bệnh mạn tính, suy nhược cơ thể, trừ phong tê thấp, kiện não, ích trí, tốt cho người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em. Dùng vừng đen làm thuốc nếu được chế biến theo cách cửu chưng, cửu sái thì hiệu quả điều trị còn cao hơn nhiều. Sách “danh y biệt lục” xếp vừng vào thực phẩm thượng hạng. Bản thảo cương mục viết: Thời cổ xem vừng là tiên dược dùng lâu dài rất có ích. Các sách Trung Quốc đều cho rằng “ăn vừng là bí quyết cải lão hoàn đồng” được sử dụng chữa bệnh như sau:

Tăng cường thể lực, phòng chống bệnh tật: Vừng đen 20g, phục linh 25g, bột mì, mật ong vừa đủ. Phục linh và vừng đen giã nát trộn bột mì và mật ong, hấp chín.

Kiện tỳ, cường thận, tóc đen, sinh tủy, tăng cường trí nhớ: Vừng đen 50g, thủ ô 50g, trai ngọc 20g, thần khúc 50g, phục linh 50g, đào nhân 10g, bạch truật 50g, vỏ trong mề gà 10g, trần bì 20g. Nghiền chung thành bột mịn, cho mật ong vào hoàn viên. Nhai, uống mỗi ngày 10-20g.

Chữa nhức đầu, hoa mắt, tóc bạc sớm, đại tiện táo kết: Vừng đen 15g, hà thủ ô 15g, câu kỷ tử 15g, cúc hoa 9g. Sắc uống.

Chữa suy nhược thần kinh, rụng tóc, chứng hay quên: Vừng đen 250g, hạnh đào nhân 250g, đường phèn 0,5kg. Vừng đen và hạnh nhân rang chín. Đường phèn đun nóng cho vừng và hạnh nhân vào trộn đều đổ ra đĩa, chờ nguội có thể sắn hoặc cắt thành từng miếng nhỏ ăn cách nhật.

Vừng trừ phong thấp, ích trí Vừng đen không chỉ giúp chữa rụng tóc mà còn trị suy nhược thần kinh và chứng hay quên.

Chữa thận hư, ho, suyễn, đại tiện táo: Vừng đen 25g, hạnh nhân 25g, rượu trắng 500 ml. Ngâm 2 tuần là dùng được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20ml.

Chữa hen suyễn, cơ thể suy nhược: Vừng đen 250g, mật ong, đường phèn, nước gừng tươi đều 100g. Nghiền vừng đen (hoặc cho vừng vào máy xay sinh tố) thành bột lỏng, cho nước gừng, mật ong, đường phèn trộn đều, đun cách thủy 60-90 phút. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20 ml…

Dùng cho sản phụ ít sữa hoặc tắc sữa: Vừng đen rang chín với muối làm nhân bánh hoặc ăn với cơm.

Chữa gan thận bất túc, đầu váng, mắt hoa, lưng đau, gối mỏi da khô, huyết hư…: Vừng đen 20g, gạo lứt 50g. Vừng đen rang chín nấu cháo gạo lứt, thêm đường ăn.

Chữa ho khan lâu ngày, phế âm hư tổn: Vừng đen 125g, đường phèn 30g. Nghiền chung thành bột. Mỗi lần uống 15-30g.

Phương thuốc có tác dụng bổ gan thận, nhuận ngũ tạng: Vừng đen 1.000g, bổ cốt chỉ 30g, nhục đậu khấu 20g, ngũ vị tử 20g, táo tàu 35g, gừng tươi 100g, ngô thù du 10g. Tất cả (vừng đen sao thơm. Bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu, ngũ vị tử, ngô thù du: bỏ hạt) xay khô, tán bột, trộn đều, đựng vào lọ kín. Khi dùng cho nước ấm khuấy tan, thêm đường, hấp cách thủy, không loãng không đặc là được.

BS. Lê Thanh Hương

Tin liên quan

Vừng đen – Vị thuốc quý

SKĐS – Vừng đen (miền Nam gọi là mè đen) là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và vị thuốc chữa bệnh tốt.

6 tác dụng tuyệt vời của vừng đen đối với sức khỏe và sắc đẹp chị em

SKĐS – Vừng có hai loại trắng và đen, trong đó vừng đen có nhiều dược tính hơn cả nên được dùng làm thuốc chữa bệnh. Từ lâu đời, vừng đen (còn gọi hắc chi ma) đã được coi là món ăn bổ, và vị thuốc quý.

Vừng đen bổ thận, huyết, nhuận tràng

SKĐS – Vừng đen, tên khác chi ma, ô ma tử, hồ ma nhân… Theo các nghiên cứu của y học hiện đại, vừng đen có hàm chứa chất béo, chất albumin, chất diệp toan, kích thích tố… tác dụng chống lão hóa, có thể ức chế các tế bào tự do trong cơ thể, chống xơ cứng động mạch, tăng lượng tế bào máu…

Vừng đen làm thuốc

SKĐS – Vừng là một loại thức ăn ngon, bổ dưỡng, tuy dân dã nhưng có công dụng bảo vệ và tăng cường sức khỏe.

#vừng đen
#rụng tóc

Sức Khỏe Đời Sống

Hạt cải củ – Vị thuốc hay

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Hạt cải củ – Vị thuốc hay
TS. Nguyễn Đức Quang – 20:15 12/04/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Cải củ là cây trồng rất phổ biến để lấy lá luộc ăn, lá già muối dưa; củ cải có thể chế biến nhiều món ăn như luộc, kho với thịt, cá, xào, nấu canh hoặc làm gỏi, muối dưa… Hạt già của cây cải củ (la bặc tử) là vị thuốc hay trị nhiều bệnh.

Hạt cải củ chứa chứa dầu béo, tinh dầu, β, γ – sitosterol và một số chất kháng khuẩn có sulfua… Theo Đông y, la bặc tử vị cay ngọt, tính bình, vào kinh tỳ, vị và phế. Tác dụng tiêu thực, trừ trướng (giáng khí), trừ đờm. Chữa các chứng thực tích, khí trệ ở trung tiêu, đàm suyễn khái thấu (ho suyễn có đàm). Liều dùng: 6-12g.

Một số bài thuốc có hạt cải củ

Giúp tiêu hóa: dùng cho các chứng tiêu hóa kém, ăn uống bị đầy, hơi không lưu thông, tức ngực, trướng bụng.

Bài 1: hạt cải củ sao 12g, chỉ xác 8g, thần khúc sao xém 16g. Sắc uống. Chữa tiêu hóa kém, hôi miệng, bụng trướng, đại tiện táo.

Bài 2: hạt cải củ 12g, tỏi 1 củ. Hạt cải củ nghiền thành bột, tỏi giã nát ép lấy nước. Uống bột thuốc và nước tỏi với nước đun sôi còn nóng. Chữa lỵ đau mót đại tiện. Có thể kết hợp hạt cải củ với tiểu hồi hương, đại hoàng để chữa bí đại tiện đơn thuần.

Hạt cải củ

Đưa hơi xuống, cắt cơn hen suyễn

Bài 1: hạt cải củ sao 12g, hạt tía tô 12g. Sắc uống. Chữa viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi.

Bài 2 – Tam tử dưỡng thân thang: hạt cải củ sao, hạt tía tô sao, bạch giới tử sao, mỗi vị 12g. Tất cả tán bột thô, cho vào túi vải, sắc với 400ml lấy 200ml, chia uống 3 lần trong ngày. Chữa viêm phế quản mạn tính, hen suyễn.

Bài 3: hạt cải củ sao 12g, hạnh nhân 12g, cam thảo sống 8g. Sắc uống. Chữa viêm phế quản mạn tính, ho nhiều đờm.

Bài 4: hạt củ cải sao, hạt bồ kết đốt tồn tính, liều lượng bằng nhau. Tán bột mịn, luyện với mật ong làm viên. Mỗi lần uống 4g, ngày uống 2-3 lần. Trị đờm suyễn, ngực căng thở gấp.

Thực đơn có hạt cải củ: hạt củ cải tươi nghiền nát, mỗi lần uống 6g cùng với nước hồ hoặc nước cơm. Ngày 3 lần. Dùng tốt cho người ban sởi mọc chậm không đều, hoặc sau khi ban sởi mọc có viêm khí phế quản ho nhiều đờm.

Chú ý: hạt cải củ hao tổn khí nên người sức yếu không bị đầy tích, đờm trệ đọng không uống.

 

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan

Món ăn thuốc từ củ cải

SKĐS – Củ cải là thực phẩm ngon, dễ ăn đặc biệt dễ chế biến, rất thích hợp trong mùa đông. Bạn có thể làm món nộm, dưa muối hay món xào, kho cũng rất ngon.

Củ cải trắng: Lợi ích từ làm đẹp đến chữa bệnh

SKĐS – Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát, củ cải nấu chín có vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị, có công dụng chữa một số bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu,…

Các loại rau củ cải thiện cho phụ nữ mang thai bị thiếu máu

SKĐS – Mang thai là một giai đoạn đáng nhớ trong cuộc đời của người phụ nữ. Ai cũng mong muốn có sức khỏe tốt nhất để khi sinh con của chúng ta được khỏe mạnh.

Củ cải trắng bổ dưỡng và trị được nhiều bệnh

SKĐS – Củ cải trắng còn gọi la bặc tử, lai phục tử, rau lú bú. Củ cải trắng là thực phẩm được trồng phổ biến và rất quen thuộc trong mùa đông.

Sức Khỏe Đời Sống

Nhàu núi: hạ áp, trừ phong thấp

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Nhàu núi: hạ áp, trừ phong thấp
DS. Mai Thu Thủy – 09:36 13/04/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Rễ nhàu là một vị thuốc Nam thông dụng, được dùng phối hợp với những vị thuốc khác để chữa trị các chứng tăng huyết áp do bất kỳ nguyên nhân nào. Ngoài ra tác dụng thông kinh hoạt huyết cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc cải thiện tuần hoàn huyết.

Cây nhàu còn gọi là cây ngao hoặc nhàu rừng, nhàu núi. Bộ phận để làm thuốc là vỏ cây, rễ, lá, quả. Quả nhàu chín ăn giúp tiêu hóa tốt, điều kinh, hạ áp, Quả già, nướng chín chữa ho, tiêu chảy, bệnh tiểu đường…

Rễ nhàu chữa tăng huyết áp, nhức mỏi chân tay; lá nhàu tươi giã nhuyễn, dùng ngoài, đắp vào nơi tổn thương giảm đau khớp, lành vết thương.

Theo nghiên cứu của y học hiện đại: Dịch quả nhàu có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư do làm giảm lượng máu tới khối u, dịch chiết quả nhàu làm giảm sự tiết dịch của niêm mạc dạ dày, tá tràng, rất tốt cho trường hợp viêm dạ dày thể đa toan hoặc trường hợp trào ngược dịch dạ dày, cao lỏng rễ nhàu có tác dụng giảm đau, chống viêm, tác dụng hạ đường huyết.

Để làm thuốc, Đông y sử dụng rễ nhàu hoặc thân cây nhàu thái mỏng, phơi khô hoặc sấy khô dùng dần. Dược liệu có vị chát, tính bình, quy vào kinh thận, đại tràng, với công năng trừ phong thấp, nhuận tràng, bình can, giáng nghịch, dùng trị đau nhức xương khớp, trị tăng huyết áp, bồi bổ cho phụ nữ sau sinh sức khỏe yếu, mệt mỏi, tăng cường miễn dịch và tăng sức đề kháng cho cơ thể. Dưới đây là một số bài thuốc thường dùng:

Rễ nhàu

Chữa nhức đầu kinh niên, đau nửa đầu: rễ nhàu  24g, muồng trâu  12g, cối xay 12g, rau má 12g, củ gấu (sao, tẩm đồng tiện) 8g

Đổ 500ml nước, sắc còn 250ml. Chia 2 lần uống trong ngày, uống lúc thuốc còn nóng.

Chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, huyết áp tăng: rễ nhàu  24g, thảo quyết minh (sao thơm) 12g, rau má  8g, thổ phục linh 8g, vỏ bưởi  6g, gừng sống   3 lát. Đổ 500ml nước, sắc còn 250ml. Chia 2 lần uống trong ngày, uống lúc thuốc còn nóng.

Chữa nhức mỏi, tê bại do phong thấp: rễ nhàu  40g, nghệ xanh 20g, nghệ vàng  20g, trái ô môi 10g, thiên niên kiện  20g, vỏ quýt 20g, quế chi 20g, đỗ trọng 30g, vòi voi 40g, chùm gửi cây dâu 20g, rượu nếp  2 lít, đường cát trắng  500g. Ngâm tất cả thuốc vào 2 lít rượu nếp trong 7 ngày.  Lọc kỹ, bỏ xác. Pha rượu đã lọc với 1 lít nước đường. Mỗi lần uống một ly nhỏ khoảng 30ml đến 40ml.  Ngày uống 2 lần. 

Lưu ý: Ngoài rượu còn có một số thuốc có tính nhiệt khác như quế chi, vỏ quýt, thiên niên kiện, nên những người thể tạng nhiệt, hay táo bón, tăng áp huyết hoặc đang có các chứng viêm nhiễm không nên dùng.

Trị tăng huyết áp: rễ nhàu rửa sạch, phơi khô hoặc sấy khô, thái nhỏ, hãm hoặc sắc 10 – 20g mỗi ngày; nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ sẽ cho kết quả tốt hơn. Có thể mỗi đợt kéo dài 2-3 tuần. Nghỉ 1 tuần, tùy theo mức độ huyết áp lúc đó, có thể dùng tiếp liệu trình sau. Khi huyết áp đã hạ, những lần sau có thể giảm liều xuống  8 -12g.

Trị đau lưng, nhức xương, đau dây thần kinh ngoại biên: rễ nhàu ngâm rượu. Đem rễ nhàu sấy khô, tán bột thô, ngâm rượu. Lấy 100g rễ nhàu ngâm trong 1 lít rượu 35 độ, sau 3 – 4 tuần có thể chiết lấy dịch ngâm. Tiếp tục thêm 0,5 lít rượu nữa, ngâm tiếp trong 2 – 3 tuần. Chiết lấy dịch ngâm. Trộn đều dịch ngâm của 2 lần. Để lắng, lọc bỏ cặn. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 20-30ml trước bữa ăn.

Trị tăng huyết áp: rễ nhàu (khô) 40g, sắc với 1.000ml nước trong 15 phút, chia uống trong ngày. 10-15 ngày là 1 liệu trình, dùng liên tục trong 2 tháng, sau đó giảm dần, có thể nấu thành cao lỏng để dùng dần.

Trị ho ra máu: rễ nhàu (khô) 40g, thiên môn 20g, bách bộ 20g. Sắc uống.

Nhàu núi làm thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ đường huyết.

Nhàu núi làm thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ đường huyết.

Quả nhàu

Trị  bệnh gút, tăng huyết áp, mất ngủ, đại tiện táo, đau lưng, nhức mỏi chân tay, rối loạn kinh nguyệt, khí hư: quả nhàu chín 1kg ( rửa sạch), rượu trắng 40 độ 300ml. Cho vào máy xay nhuyễn (cả hạt), sau đó cho vào lọ thủy tinh, thêm 200g đường cát, đậy kín, ủ 5-7 ngày, mở ra cho 1.200ml rượu trắng vào trộn đều. Lọc, ép lấy nước cốt nhàu để dùng dần. Mỗi ngày uống 5ml, sau bữa ăn, ngày 2-3 lần (nếu không uống được rượu có thể pha loãng với nước ấm).

Trị táo bón, kích thích tiêu hóa, lợi tiểu, điều kinh: dùng quả nhàu chín ăn với muối, mỗi lần 3-5 quả.

Trị kiết lỵ: lấy 3 – 5 quả nhàu đã già, nướng chín ăn hoặc lấy 10 – 12g lá nhàu sắc uống. Cũng có thể phối hợp với 10g cỏ sữa để tăng hiệu quả.

Trị tụ huyết bầm tím do chấn thương té ngã: quả nhàu non 12g (khoảng 3 quả), chế biến như ở trên. Hoặc rễ mía dò 10g; củ tầm sét (củ bìm bìm xẻ) 10g. Tất cả phơi khô, tán bột thô, sắc uống 3 lần trong ngày,  uống trước bữa ăn. Có thể uống 5 – 10 ngày liền là 1 liệu trình.    

DS. Mai Thu Thủy

Tin liên quan
#Nhàu núi: hạ áp
#trừ phong thấp

Sức Khỏe Đời Sống

Thuốc Nam hỗ trợ phòng trị sốt xuất huyết

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Thuốc Nam hỗ trợ phòng trị sốt xuất huyết
Lương y Minh Phúc – 18:11 21/11/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Thông thường trong và sau mưa lũ, các vi sinh vật gây bệnh cùng rác thải, chất thải và xác động vật hòa trộn vào dòng nước, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh. Những bệnh thường gặp là nấm kẽ chân, đau mắt đỏ, tả, sốt xuất huyết…

Sốt xuất huyết (SXH) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn. Bệnh xuất hiện quanh năm, tăng cao vào mùa mưa, đặc biệt là sau bão lũ. Theo y học cổ truyền, SXH thuộc ngoại cảm phong nhiệt thuộc chứng ôn bệnh, còn gọi ngoại cảm ôn tà. Trên lâm sàng biểu hiện sốt cao đột ngột, sốt liên tục, khi sốt cao sẽ dẫn đến tổn thương phần âm tân dịch. Nguyên nhân gây SXH chủ yếu là do hỏa thịnh âm hư, nhức mỏi do nhiệt tà uất kết. Phép trị: tân lương giải biểu, thanh nội nhiệt, dưỡng âm, cầm huyết, thư cơ, nên vừa giải phong nhiệt vừa cố giữ đến phần âm là chính, kết hợp thanh hỏa mà huyết cầm, giải nhiệt tà đau mỏi sẽ giảm… Sau đây là bài thuốc Nam quý có tác dụng phòng trị SXH khi bệnh còn nhẹ: độ I, II (sốt cao, xuất huyết ít).

Rau má (tích tuyết thảo) là vị thuốc Nam hỗ trợ phòng trị bệnh sốt xuất huyết rất hiệu quả.

Rau má (tích tuyết thảo) là vị thuốc Nam hỗ trợ phòng trị bệnh sốt xuất huyết rất hiệu quả.

Thành phần

Cỏ mực 16g, lá tre 16g, rễ cỏ tranh 16g, rau má 16g, cát căn 16g, đậu đen 40g. Sắc uống ngày 1 – 2 thang, mỗi thang sắc 2-3 lần, mỗi lần đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén, uống liên tục cho đến khi hết sốt, khỏi bệnh. Tác dụng: Giải nhiệt tà dưỡng âm, thanh hỏa cầm huyết, thư cơ, bổ chính khử tà. Chủ trị SXH, sốt nhiễm siêu vi, “ôn bệnh”. Ngoài ra bài này còn chữa cảm cúm, sốt cao, người nóng trong, đau đầu, đau mình dùng đều có hiệu quả tốt.

Cỏ mực (hạn liên thảo): Vị ngọt cay, tính hàn, vào can và thận. Tác dụng giải nhiệt dưỡng âm, thanh hỏa cầm huyết, là chủ dược.

Lá tre (trúc diệp): Vị ngọt mát, vào tâm, phế, vị. Tác dụng thanh tâm, tả hỏa, lợi tiểu. Chữa chứng nội nhiệt tâm phiền nóng bứt rứt khó ngủ, tiểu ít, tiểu dắt, nôn khan.

Rễ cỏ tranh (bạch mao căn): Vị ngọt, tính mát vào tâm tỳ vị, tác dụng mát huyết, thanh nhiệt lợi tiểu cầm huyết, thanh giải nhiệt tà phần lý. Trị chứng khái huyết, xuất huyết tiểu tiện.

Rau má (tích tuyết thảo): Vị ngọt đắng, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, dưỡng âm, nhuận can, lương huyết, lợi tiểu, giải độc.

Sắn dây (cát căn): Vị ngọt tính bình, vào tỳ vị. Tác dụng tán nhiệt (giải nhiệt tà ra ngoài), sinh tân dịch, bớt khát, tiêu độc thấu chẩn, giải kinh (chống co giật, giảm đau nhức).

Đậu đen (hắc đậu): Vị ngọt tính mát. Tác dụng bổ huyết, trừ phong thanh nhiệt dưỡng âm, giải độc, lợi tiểu, hạ sốt, cầm huyết. Ngoài ra đậu đen rất giàu dưỡng chất như protid, lipid, glucid, vitamin C, B1, B2, PP, caroten, đều là dưỡng chất có vai trò chất bổ chính khử tà.

Bài thuốc có công năng vừa giải ngoại cảm ôn tà vừa thanh lý nhiệt, dưỡng âm cầm huyết, giải uất nhiệt bớt đau nhức, bổ chính khử tà.

Gia giảm

Nếu sốt kèm đau họng, nổi ban nhiều gia kim ngân hoa 20g. Nếu nhức mỏi cơ gia sắn dây lượng gấp đôi. Nếu nóng bứt rứt, khó ngủ gia lá tre gấp đôi. Nếu chảy máu cam, chảy máy chân răng, nôn khan, nôn ra máu, xuất huyết đại tiểu tiện, tăng vị rễ cỏ tranh gấp đôi.

Nếu có tiêu chảy: thì cỏ mực, rễ tranh nên sao vàng.

Giai đoạn hết sốt: bệnh nhân người mệt mỏi tay chân lạnh, nổi da gà, dễ vã mồ hôi “huyết áp tụt”, giảm vị cỏ mực, rễ cỏ tranh; thêm sâm ngọc linh 12g hoặc nhân sâm, đảng sâm, mạch môn, mỗi vị 14g; ngũ vị tử 10g, để tăng tác dụng bổ khí liễm hãn dưỡng âm sinh tân.

Đây là bài thuốc Nam phòng trị SXH rất công hiệu, đặc biệt làm giảm các triệu chứng khó chịu bệnh như chứng sốt cao, xuất huyết, nhức mỏi, bứt rứt khó ngủ… Tác giả đã sử dụng bài thuốc này nhiều năm, cho gần 100 ca đều thấy kết quả tốt, chưa thấy tác dụng phụ, khi hết sốt nhanh phục hồi. Bài thuốc rất dễ uống, dễ sử dụng, dược liệu sẵn có, nếu được sử dụng sớm ngay ngày đầu sốt sẽ không kéo dài. Tuy nhiên  với bệnh nhân thể nặng (độ III và IV), bài này chỉ nên phối hợp và hỗ trợ giảm triệu chứng, nhất thiết phải đi khám theo dõi của y học hiện đại để xử trí kịp thời tránh biến chứng. Người bệnh nên có chế độ ăn bổ mát, dễ tiêu.

Phòng ngừa SXH

Mặc quần áo dài tay, ngủ trong màn cả ban đêm lẫn ban ngày. Không ở nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi đốt; Thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ; Đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hằng tuần cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; Thả cá 7 màu diệt lăng quăng (bọ gậy); Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muỗi trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ, vỏ xe…); Thay nước mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi; có thể dùng thuốc diệt muỗi hoặc nhang trừ muỗi.

Lương y Minh Phúc

Tin liên quan
#Thuốc Nam hỗ trợ phòng trị sốt xuất huyết

Sức Khỏe Đời Sống

Lá dâu – vị thuốc hay

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Lá dâu – vị thuốc hay
TS. Nguyễn Đức Quang – 11:01 14/12/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Dâu tằm là loại cây quen thuộc, lá dùng để cho tằm ăn, còn quả thường dùng để ngâm rượu, ngâm siro uống rất ngon. Lá dâu tằm còn là vị thuốc Đông y rất phổ biến phòng trị bệnh.

Lá dâu còn gọi tang diệp, tên khoa học: Folium Mori albae, là lá cây Dâu tằm (Morus alba L.), thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Trong lá dâu có các hợp chất gelatin, carotene, tannin, sinh tố C, B1, B2, cholin, adenin, trigonellin; các loại đường fructose, saccharose, glucose; acid folic, purine glutamic, glutathione; các nguyên tố: Cu, Zn, B.

Theo Đông y, lá dâu đắng ngọt, tính hàn; vào phế và can. Tác dụng phát tán phong nhiệt, thanh phế chỉ khái, thanh can minh mục. Trị cảm mạo phong nhiệt, đau đầu, đau mắt đỏ, viêm khí phế quản, ho khan ít đờm, khát nước khô miệng. Liều dùng và cách dùng: 6-15g; có thể nấu, hãm, sắc…

Lá dâu tằm khô cho vị thuốc tang diệp - một vị thuốc quý trị cảm mạo phong nhiệt, đau mắt đỏ, viêm phế quản, ho khan...

Lá dâu tằm khô cho vị thuốc tang diệp – một vị thuốc quý trị cảm mạo phong nhiệt, đau mắt đỏ, viêm phế quản, ho khan…

Bài thuốc có tang diệp

Tán nhiệt, giải biểu: Trị cảm mạo phong nhiệt mới phát, miệng khát, rêu lưỡi hơi vàng hoặc ho do phong ôn. Dùng bài: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, bạc hà 4g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, lô căn 20g. Sắc uống.

Mát gan, sáng mắt: Trị chứng phong nhiệt ở kinh can, mắt đỏ sưng đau.

Bài 1: tang diệp 63g, mang tiêu 12g. Sắc lá dâu trước lấy 500ml nước, bỏ bã, hòa tan mang tiêu, rửa mắt khi còn ấm. Trị đau mắt hột, đau mắt, ngứa mắt.

Bài 2: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, thảo quyết minh 8g. Sắc uống. Trị viêm màng tiếp hợp, mắt đỏ sưng đau.

Mát phổi, dịu ho: Trị ho do phong nhiệt, biểu hiện đờm vàng đặc hoặc ho khan không đờm.

Bài 1 – Thang tang hạnh: tang diệp 8g, hạnh nhân 12g, bối mẫu 8g, đậu xị 4g, chi tử bì 8g, lê bì 8g, sa sâm 8g. Sắc uống. Trị ho khan không đờm do khí hanh mùa thu, đau đầu, phát sốt, lưỡi đỏ.

Bài 2: tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, bạc hà 4g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, lô căn 20g. Sắc uống.

Hạ huyết áp: tang diệp 20g, tang chi 20g, sung úy tử 20g. Các vị cho vào nồi, đổ 1.000ml nước, sắc lấy 600ml; ngâm rửa chân 30-40 phút trước khi đi ngủ.

Món ăn thuốc có tang diệp

Tang cúc đạm trúc ẩm: tang diệp 6g, cúc hoa 6g, đạm trúc diệp 30g, bạch mao căn 30g, bạc hà 4g. Tất cả hãm với nước sôi, thêm chút đường uống thay trà. Dùng tốt cho người bị sốt, ho khan ít đờm, vã mồ hôi do cảm mạo phong nhiệt, viêm kết mạc mắt cấp tính.

Trà tang diệp cúc hoa kỷ tử quyết minh tử: tang diệp 9g, cúc hoa 9g, kỷ tử 9g, quyết minh tử 6g. Tất cả pha nước sôi uống thay trà. Dùng tốt cho người bị đau đầu hoa mắt chóng mặt.

Trà tang diệp cúc hoa bạc hà cam thảo: tang diệp 10g, cúc hoa 10g, bạc hà 10g, cam thảo 10g. Tất cả cho vào ấm, đổ nước sôi pha hãm uống thay nước trà. Trị cảm mạo phong nhiệt.

Cháo tang diệp cúc hoa: tang diệp 10g, cúc hoa 12g, đậu xị 10g, gạo tẻ 60g. Các dược liệu nấu sắc lấy nước. Gạo vo sạch nấu cháo, cháo được cho nước sắc thuốc vào, đun tiếp một lát, ăn nóng. Dùng tốt cho người đau nhức vùng mắt do viêm kết mạc, đau dây thần kinh số V do chấn thương vùng mặt.

Phổi lợn hầm tang diệp huyền sâm: tang diệp 15g, huyền sâm 20g, phổi lợn 250g. Tang diệp, huyền sâm gói trong vải xô, phổi lợn rửa sạch thái lát. Tất cả hầm kỹ, bỏ túi dược liệu, thêm gia vị thích hợp để ăn. Đợt dùng liên tục 5-10 ngày. Món này tốt cho người viêm tắc tuyến lệ gây viêm khô kết mạc mắt.

Kiêng kỵ: Không dùng tang diệp khi ban sởi đã mọc.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Lá dâu – vị thuốc hay

Sức Khỏe Đời Sống

Bạch truật bổ khí kiện tỳ, an thai

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Bạch truật bổ khí kiện tỳ, an thai
TS. Nguyễn Đức Quang – 14:10 21/12/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Bạch truật là rễ củ phơi hay sấy khô của cây Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz.), thuộc họ Cúc (Asteraceae). Về thành phần hoạt chất, bạch truật có các hợp chất sterol, tinh dầu, sinh tố A… Tác dụng tăng sức bền, tăng khả năng thực bào, bảo vệ gan, lợi mật, chống loét, lợi niệu, chống u bướu, chống đông máu, làm giãn mạch, hạ huyết áp, giảm đường huyết.

Theo Đông y, bạch truật vị ngọt đắng, tính ôn; vào kinh tỳ và vị. Tác dụng bổ khí, kiện tỳ, táo thấp, lợi thủy, chỉ hãn, an thai. Trị chứng tỳ vị khí hư, thủy thũng, đàm ẩm, khí hư tự hãn và an thai. Liều dùng: 6 – 12g. Nếu dùng chữa táo thấp thì để sống, dùng để bổ tỳ vị thì phải sao tẩm.

Lưu ý: Trên thị trường có vị thuốc “bạch truật nam”, đó là thân rễ của cây thổ tam thất, hay bạch truật nam (Gynura pseudochina DC.), thuộc họ Cúc (Asteraceae). Rễ củ để nguyên gọi là thổ tam thất.

Bạch truật được dùng làm thuốc trong các trường hợp

Kiện tỳ, cầm tiêu chảy:

Bài 1: Thang lý trung: đảng sâm 12g, sinh khương 8g, bạch truật 12g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị chứng tỳ hư thấp trệ, đại tiện lỏng, người mệt, kém ăn.

Bài 2: Bột sâm truật: đảng sâm 12g, bạch truật 12g, phục linh 12g, ý dĩ 12g, liên nhục 12g, nhục đậu khấu 12g, kha tử 12g, trần bì 12g, sơn tra 8g, thần khúc 8g, mộc hương 4g, sa nhân 4g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc tán bột. Trị các chứng tỳ hư thấp trệ, đại tiện lỏng, người mệt, ăn uống không tiêu, bụng đầy hơi.

Kiện vị tiêu thực (làm khoẻ dạ dày, dễ tiêu hoá): dùng Thang chỉ truật: bạch truật (sao) 12g, chỉ thực 6g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc tán bột làm viên hoàn. Mỗi lần uống 8g, ngày uống 2 – 3 lần, chiêu với nước cơm. Trị tỳ, vị đều hư nhược, tiêu hoá không tốt, không muốn ăn uống.

Bạch truật -  vị thuốc hay trị tỳ vị hư nhược, ăn uống kém.

Bạch truật –  vị thuốc hay trị tỳ vị hư nhược, ăn uống kém.

Cố biểu, chỉ hãn:

Bài 1: Thuốc sắc bạch truật: bạch truật 12g, hoàng kỳ 12g, phù tiểu mạch 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị chứng tim hồi hộp, lo âu, tự ra mồ hôi.

Bài 2: Thuốc bột bạch truật: bạch truật 12g, phòng phong 12g, mẫu lệ 24g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc tán thành bột, mỗi lần uống 12g, chiêu với nước đun sôi nguội. Trị chứng tỳ hư, tự ra mồ hôi, người mỏi mệt, hơi thở ngắn.

Lợi niệu tiêu thũng: dùng trong trường hợp tỳ hư, thuỷ thấp không chuyển hoá được gây phù nề.

Bài 1: Thang linh quế truật cam: phục linh 12g, quế chi 8g, bạch truật 8g, cam thảo 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị các chứng tỳ hư, ho hen có đờm, tim đập nhanh, mắt mờ.

Bài 2: Bột toàn sinh bạch truật: bạch truật 12g, đại phúc bì 12g, gừng tươi 12g, ngũ gia bì 12g, địa cốt bì 12g, phục linh bì 20g. Sắc uống. Trị phù nề toàn thân, phụ nữ có thai bị phù.

Thuốc an thai

Bài 1: Đương quy tán: bạch truật 32g, đương quy 64g, hoàng cầm 64g, bạch thược 64g, xuyên khung 64g. Các vị sấy khô, tán bột. Ngày uống 8 – 12g, uống với rượu loãng. Dùng cho phụ nữ có thai mà huyết kém, thai nhiệt không yên.

Bài 2: Thái sơn bàn thạch thang: nhân sâm 5g, đương quy 8g, hoàng cầm 5g, xuyên khung 4g, thục địa 10g, chích thảo 4g, hoàng kỳ 15g, tục đoạn 5g, bạch truật 10g, thược dược 6g, sa nhân 4g, nhu mễ 5g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: ích khí kiện tỳ, dưỡng huyết an thai.

Món ăn thuốc có bạch truật

Trị phụ nữ đau bụng đầy tức trướng hơi từng cơn: Cháo lòng lợn bạch truật: bạch truật 40g, cau 1 quả, gừng nướng 40g, ruột lợn 1 đoạn, gạo tẻ 60g. Ruột lợn làm sạch, thái đoạn; các dược liệu thái lát, đập giập sắc lấy nước, bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo với lòng lợn, khi cháo chín nhừ cho nước sắc thuốc vào, thêm gia vị đun sôi. Ăn khi đói.

Trị hội chứng lỵ mạn tính: dùng Cao lỏng bạch truật: bạch truật 300g sắc lấy nước, bỏ bã, cô đặc thành cao lỏng (tỷ lệ 1/1). Mỗi lần dùng 2 – 3 thìa, ngày uống 2 lần với nước sôi nguội có chút đường.

Trị tiêu chảy, đầy bụng chán ăn: món Cháo bạch truật vỏ quất: bạch truật 24g, vỏ quất 14g, gạo tẻ 100g. Bạch truật, vỏ quất sắc lấy nước bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo, cháo chín cho nước sắc dược liệu vào, đun sôi, có thể thêm đường hoặc muối và gia vị. Ăn khi đói.

Dùng cho phụ nữ bị suy nhược, có thai dọa sẩy: món Cháo nếp sâm kỳ truật táo: bạch truật 12g, đảng sâm 12g, hoàng kỳ 30g, đại táo 14g, gạo nếp 50g. Sắc 4 vị thuốc lấy nước bỏ bã. Gạo vo sạch nấu cháo, cháo chín cho nước thuốc vào vào đun sôi lại trong vài phút. Ăn ngày 2 lần sáng, chiều.

Dùng cho trẻ em hay bị chảy bọt rãi: món Nước hồ bạch truật: sinh bạch truật 10g giã nhỏ, cho ít nước cơm, thêm nước vừa đủ, chưng nhỏ lửa trên bếp. Ngày ăn 3 lần.

Món ăn cho người cao tuổi, người suy nhược, trẻ nhỏ bị ăn kém, tiêu chảy mạn tính: món Bánh khảo bạch truật: sinh bạch truật 250g nghiền nhỏ, rang chín, đại táo 250g (đồ chín bỏ hạt), bột gạo (hoặc bột mì) 500g, thêm nước giã trộn thành 10 cái bánh, hấp chín. Ăn điểm tâm ngày 1 – 2 cái.

Kiêng kỵ: Người có chứng âm hư hoả vượng không dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Bạch truật bổ khí kiện tỳ
#an thai

Sức Khỏe Đời Sống

Đu đủ – món ăn bổ dưỡng, đẹp người, mịn da

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Đu đủ – món ăn bổ dưỡng, đẹp người, mịn da
TS. Nguyễn Đức Quang – 11:00 24/12/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Đu đủ có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Vào thế kỷ thứ 16, người Tây Ban Nha đưa cây đu đủ vào vùng Caribe và các nước Đông Nam Á, từ đó tiếp tục được trồng rộng rãi ở Ấn Độ, Srilanca, châu Đại Dương và châu Phi.

Cây đu đủ trồng hiện nay là giống lai tự nhiên, có tên khoa học: Carica papaya L., họ Đu đủ (Papayaceae). Đu đủ trở thành giống cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam cũng như nhiều nước nhiệt đới khác. Nó còn có tên khác: thù đủ, phiên mộc qua, thạch qua, đông qua thụ, vạn thọ quả, phiên quả, mộc quả, mộc đông quả, nhũ quả. Bộ phận dùng làm thuốc là quả, lá, rễ và nhựa.

Quả đu đủ chín chứa nước, glucid, protein, cellulose, calci, P; các vitamin A, C, B. Quả xanh có nhựa mủ (trong có papain, carpain, myrosin); saccharose, acid hữu cơ (acid tartic, acid malic); cácvitamin và carotenoid.

Theo nghiên cứu, 100g quả đu đủ chín có 74-80mg vitamin C, 500-1250IU carotene. Quả đu đủ màu vàng nhạt có nhiều beta carotene, cryptoxanthin, violaxanthin, cryptoxanthin monoepoxide. Quả đu đủ màu hồng có nhiều lycopene. Đu đủ còn có vitamin B1, B2 và các khoáng chất (kali, magiê, sắt, kẽm…). Chất papain chịu được nhiệt độ 700C trong 30 phút, có tác dụng tiêu hóa thịt và protein, chất này có nhiều trong lá, thân, quả xanh và có ít trong quả chín. Chất carpain còn có tác dụng làm chậm nhịp tim. Cao lá đu đủ có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus, kháng u bướu. Quả đu đủ có nhiều thành phần hữu ích trong việc phòng chống các bệnh tim mạch và ung thư, ngăn ngừa các chất có hại cho làn da, giữ cho da khỏe đẹp và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Theo Đông y, quả đu đủ chín vị ngọt tính mát, lành tính, không có độc tố. Ăn vào mùa nào cũng tốt cho sức khỏe: ăn mùa xuân hè có tác dụng thanh tâm nhuận phế, giải nhiệt, giải độc; ăn vào mùa thu đông có tác dụng nhuận táo, ôn bổ tỳ vị, dưỡng can, nhuận phế, chỉ khái, hóa đàm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp phục hồi chức năng gan. Trong đu đủ có nhiều vitamin C và carotene, có tác dụng chống ôxy hóa và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Bộ phận dùng làm thuốc là quả, lá, rễ và nhựa đu đủ.

Bộ phận dùng làm thuốc là quả, lá, rễ và nhựa đu đủ.

Các bài thuốc có quả đu đủ

Nhựa mủ đu đủ làm thuốc trong y học hiện đại (chiết papain, carpain…)

Tẩy giun kim cho trẻ nhỏ: cho trẻ ăn đu đủ chín (50-100g) mỗi ngày, trong 7-10 ngày (sau bữa cơm chiều).

Quả đu đủ xanh hay lá để làm mềm những cục thịt cứng, nhuận tràng, lợi tiêu hóa. Quả non hầm với chân giò lợn để lợi sữa.

Chữa ho, viêm phổi, mất tiếng: hoa đu đủ hấp với đường phèn.

Chữa bong gân, sai khớp: đu đủ xanh 10g, lá na 10g, muối ăn 5g, vôi tôi 5g. Tất cả giã nát, phết lên gạc, đắp lên chỗ sưng đau sau khi đã nắn chỉnh hình khớp.

Chữa rắn độc cắn: lá đu đủ, rễ chỉ thiên, lá hoặc quả ớt, mỗi vị 50g. Tất cả rửa sạch, giã nát, thêm ít nước, gạn nước uống, bã đắp vào vết rắn cắn.

Hoặc rễ đu đủ 20g, lá xuyên tiêu 10g, hồng bì 5 hạt. Giã nát, thêm nước, gạn nước cho uống, bã đắp.

Chữa ho, viêm họng: hoa đu đủ đực 15g, xạ can 10g, mạch môn 10g, lá húng chanh 10g. Tất cả cho vào bát nhỏ, thêm ít muối, hấp cơm, nghiền nát. Ngậm và nuốt nước.

Chữa ho gà: hoa đu đủ đực sao vàng 20g, trần bì 20g, vỏ rễ dâu (tẩm mật sao) 20g, bách bộ 12g, phèn phi 12g. Tất cả sấy khô tán bột. Ngày uống 3 lần. Trẻ em 1-5 tuổi, mỗi lần 1-4g; trẻ 5-10 tuổi, mỗi lần 5-8g.

Thuốc lợi sữa: đu đủ xanh 50g, lá sung non 50g, chân giò 1 cái, gạo nếp 100g. Đu đủ gọt vỏ bỏ hạt; lá sung rửa sạch, băm nát; chân giò cạo bỏ lông, rửa sạch chặt miếng. Tất cả nấu cháo, chia 2 lần ăn trong ngày.

Chữa lở mặt, lở đầu: nhựa quả đu đủ xanh 1g, bột hàn the 1g, thêm ít nước, trộn đều, bôi lên vết lở hàng ngày.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai không nên dùng nhựa và ăn đu đủ xanh.

Đu đủ được ứng dụng trong y học dân gian của nhiều nước. Ở Ấn Độ, quả chín còn chế siro và rượu vang có tác dụng long đờm, an thần và bổ; nhựa mủ từ quả xanh tác dụng trị giun sán, có khi dùng làm thuốc chữa nốt tàn nhang và các mụn ngoài da; lá dùng làm thuốc đắp trị đau thần kinh… Ở Indonesia và Nepal dùng lá đu đủ trị sốt rét hay các bệnh sốt khác, làm thuốc tẩy cho ngựa; nước sắc rễ trị ghẻ cóc, trĩ và viêm niệu đạo…

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Đu đủ – món ăn bổ dưỡng
#đẹp người
#mịn da

Sức Khỏe Đời Sống

Cây tầm gửi lợi khí huyết, giảm đau

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Cây tầm gửi lợi khí huyết, giảm đau
DS. Mai Thu Thủy – 18:43 28/12/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Tầm gửi là cây thuốc sống bám vào cây khác, thọc sâu rễ mút vào trong nuôi sống cơ thể mình. Đông y đã sử dụng tầm gửi của nhiều loài cây để làm thuốc.

Bộ phận dùng làm thuốc của tầm gửi là cả cây, trừ rễ, thu hái khi cây chưa ra hoa. Đem cây về cắt ngắn, phơi trong râm mát hoặc sấy nhẹ cho khô. Khi dùng có thể tẩm rượu, sao qua. Dược liệu có tác dụng lợi khí huyết, giảm đau nhức xương khớp do phong thấp hoặc do chấn thương, trị tăng huyết áp, rối loạn tâm thần, an thai, lợi sữa… Trong y học hiện đại, tầm gửi có tác dụng chống viêm, giảm đau, chống ôxy hóa và bảo vệ gan… Dựa vào cây chủ nó ký sinh mà đặt tên riêng cho từng loài:

Tầm gửi cây chanh: Chữa ho khan, ho có đờm: Sao chế phối hợp với lá táo, sao vàng, sắc với 200ml, còn 50ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Tầm gửi cây mít dùng riêng hoặc phối hợp với cỏ sữa lá nhỏ, sắc uống, có tác dụng tăng tiết sữa.

Tầm gửi cây táo phối hợp với củ sả, củ chuối hột thái nhỏ, sao vàng sắc uống chữa kiết lỵ ra máu.

Tầm gửi cây xoan sắc uống chữa bệnh đường ruột, kiết lỵ, táo bón.

Tầm gửi cây cúc tần cho hạt là vị thuốc thỏ ty tử tác dụng bổ thận tráng dương, chữa di tinh, liệt dương: hạt tơ hồng (thỏ ty tử) 8g, thục địa 16g, lục giác giao 12g, đỗ trọng 12g, kỷ tử 10g, nhục quế 10g, sơn thù du 8g, phụ tử chế 6g, đương quy 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Đông y đã sử dụng nhiều loài tầm gửi để làm thuốc lợi huyết, giảm đau.

Tầm gửi cây gạo phối hợp với tầm gửi cây chanh, vỏ cây lai: sao vàng, hạ thổ, sắc uống chữa động kinh. Phối hợp với xương quạ đen sắc uống chữa hen suyễn.

Tầm gửi cây nhót sắc uống chữa tiêu chảy.

Tầm gửi cây hồi nấu nước uống thay trà, chữa ho

Tầm gửi cây đại bi sắc uống chữa viêm gan, sưng phổi.

Tầm gửi cây đào nấu lấy nước đặc rồi chấm vào vết thương trị bệnh ngoài da, dị ứng, mẩn ngứa.

Tầm gửi cây mận, cây roi, cây sung giã nát cùng với lá gấc, nhựa củ nâu, gạch non, tán vụn, giàn mỏng trên vải xô đắp băng vào nơi tổn thương chữa bong gân, sai khớp.

Tầm gửi cây quýt sắc uống chữa ho.

Tầm gửi cây khế giã nhỏ, trộn với nước vo gạo, hơ nóng, đắp chữa bong gân. Nếu sao vàng chữa ho gà, sốt rét; phối hợp với tầm gửi cây ruối, 20g, rau má 20g, lá bạc hà 10g, lá hẹ 10g. Sắc uống chữa ho, hen sữa ở trẻ em.

Tầm gửi cây dâu: với tên thuốc là tang ký sinh.

Tang ký sinh có vị đắng, tính bình, không độc. Có tác dụng bổ gan, thận, mạnh gân cốt, an thai. Theo tài liệu nước ngoài, tang ký sinh là thuốc kích thích sự tạo máu, điều trị thiếu máu và chứng chảy máu ở phụ nữa mang thai và sau sinh.

Dùng riêng tang ký sinh: sao vàng (12-16g) sắc uống hoặc để tươi (30g) giã nát, lọc lấy nước, uống vào lúc đói.

Tang ký sinh phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị trong những trường hợp sau:

Chữa đau lưng, tay chân tê bại: tang ký sinh 16g, cẩu tích 12g, ngưu tất 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa ho ra máu: tang ký sinh 16g, thài lài tía 16g, rễ chuối hột 10g, rễ cỏ tranh 10g, thái nhỏ. Sắc uống.

Chữa đau bụng, động thai: tang ký sinh 16g, cao ban long 10g, nướng cho thơm, lá ngải cứu 10g. Sắc uống 2-3 lần trong ngày.

Chữa tắc tia sữa: tang ký sinh 16g, ngưu tất 10g. Sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày

Trị chứng tăng huyết áp: tang ký sinh 32g, thạch quyết minh 20g, thiên ma 6g, câu đằng 16g, chi tử 8g, hoàng cầm 12g, đỗ trọng 14g, phục linh 12g, ngưu tất 12g, ích mẫu 16g. Nếu nhức đầu thêm cúc hoa vàng 12g, mạn kinh tử 12g. Nếu mất ngủ, khó ngủ, ngủ ít thêm toan táo nhân 8g, bá tử nhân 8g. Sắc uống làm 2 lần, uống trong ngày.

Chữa đau thần kinh tọa, thuốc bổ huyết, ích thận: tang ký sinh 18g, độc hoạt 9g, tần cửu 9g, phòng phong 9g, đương quy 9g, bạch thược 9g, đỗ trọng 9g, ngưu tất 12g, tế tân 3g, sinh địa 15g; đảng sâm 12g, phục linh12g; nhục quế 1,5g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần, uống trước bữa ăn.

Chú ý: Nếu cây chủ là cây có độc tính như: lim, trúc đào, thông thiên… thì các bộ phận của tầm gửi đều mang chất độc của cây chủ, tránh dùng tầm gửi ở những cây độc này.

DS. Mai Thu Thủy

Tin liên quan
#Cây tầm gửi lợi khí huyết
#giảm đau

Sức Khỏe Đời Sống

Bạch tật lê chữa nhức đầu, mắt đỏ

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Bạch tật lê chữa nhức đầu, mắt đỏ
Lương y Minh Phúc – 18:50 29/12/2020 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Bạch tật lê còn có tên gai trống, tật lê, thích tật lê, gai ma vương… Tên khoa học: Tribulus terresiris L. Cây mọc hoang ở những vùng đất khô, đất cát, nhất là dọc ven biển miền Trung. Bộ phận dùng làm thuốc là quả chín phơi hay sấy khô. Nên chọn quả già phơi khô hình tam giác, có màu trắng hoặc vàng ngà, vỏ cứng dày có gai, loại khô to chắc, không lẫn tạp chất là tốt.

Về thành phần hóa học, bạch tật lê chứa chất ancaloit 0,001%, chất  béo 3,5%, ít tinh dầu… Theo Đông y, bạch tật lê vị đắng, tính ôn, vào kinh phế, can. Tác dụng bình can giải uất, tán phong trừ thấp, hành huyết. Trị nhức đầu, mắt đỏ, nhiều nước mắt, phong ngứa, tích tụ, mất sữa… Ngày dùng 12 -16g. Một số phương thuốc có dùng bạch tật lê.

Trị bệnh thời khí (tứ thời cảm mạo). Dùng bài Bạch tật lê thang: bạch tật lê, bạch thược, cam thảo, đương quy, hoàng liên, mộc tặc, sơn chi, thanh thương tử, thảo quyết minh, mỗi vị 4g, hoàng cầm, xuyên khung, mỗi vị 2g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị ghẻ ngứa do nhiệt độc. Dùng bài Bạch tật lê tán: bạch tật lê, bạch tiễn bì, cam thảo, cát cánh, chi tử, huyền sâm, mạch môn, phòng phong, tiền hồ, hoàng cầm, xích thược, đại hoàng, mỗi vị 8g. Tất cả tán bột, mỗi lần uống 8g với nước sắc bạc hà.

Trị hoạt tinh, di tinh do thận âm hư, đau lưng ù tai, tay chân vô lực. Dùng bài Kim tỏa cố tinh hoàn gia vị: bạch tật lê, sa uyển tử, long cốt, mẫu lệ, mỗi vị 40g; khiếm thực, liên tu, liên tử, mỗi vị 80g. Làm hoàn hoặc sắc uống. Công dụng: cố thận, sáp tinh.

Trị đau đầu hoa mắt chóng mặt do can hỏa vượng. Kinh nghiệm dân gian dùng: bạch tật lê, câu đằng, ngưu tất, mỗi vị 12g, cúc hoa 14g, bạch thược 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trị đau mắt chảy nước mắt. Kinh nghiệm dân gian dùng: bạch tật lê, cúc hoa, mạn kinh tử, quyết minh tử, bạch thược, thuyền thoái, mỗi vị 10 – 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ở Ấn Độ, quả bạch tật lê dùng làm thuốc kích thích ăn uống, chống viêm, lợi tiểu, điều kinh, tráng dương, bổ thận, chữa sỏi thận. Ở Trung Quốc, bạch tật lê được sử dụng từ lâu đời, giúp cân bằng gan, ôn dương, trị nhức đầu, chóng mặt, mắt sưng đỏ, chảy nước mắt sống.

Kiêng kỵ: người huyết hư không nên dùng bạch tật lê.

Lương y Minh Phúc

Tin liên quan
#Bạch tật lê chữa nhức đầu
#mắt đỏ

Sức Khỏe Đời Sống

Cần tây điều hòa huyết áp

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Cần tây điều hòa huyết áp
DS. Nguyễn Thị Hồng – 20:40 05/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Cần tây còn gọi cần cạn, cần thơm, là loại cây thảo, ưa khí hậu ẩm mát, chịu được lạnh, phát triển tốt trong các mùa đông – xuân, thường dùng toàn cây để sử dụng làm thuốc.

Theo Đông y, cần tây có vị ngọt đắng, tính lương mát. Vào 2 kinh vị và can. Có tác dụng bình can thanh nhiệt, mát gan, tỉnh não kiện thần (cải thiện thần kinh), nhuận phế chỉ khái (mát phổi cầm ho), khu phong lợi thấp (trừ phong thấp), chỉ huyết (cầm máu), giải độc. Có thể dùng trị tăng huyết áp, kèm các chứng chóng mặt hoa mắt đau đầu, mặt hồng mắt đỏ; xơ cứng mạch máu, thần kinh suy nhược, kinh nguyệt không đều…

Nước ép rau cần tây tỉnh não kiện thần (cải thiện thần kinh), nhuận phế chỉ khái (mát phổi cầm ho).

Nước ép rau cần tây tỉnh não kiện thần (cải thiện thần kinh), nhuận phế chỉ khái (mát phổi cầm ho).

Kết quả nghiên cứu của y học hiện đại cho thấy cần tây có tác dụng điều hòa huyết áp. Thích hợp với trường hợp tăng huyết áp – kèm theo các chứng trạng mà Đông y gọi là “can dương thượng cang” (mặt đỏ bừng, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, dễ nổi giận, ngủ không yên giấc, nằm mơ nhiều, mạch huyền sác…).

Chữa tăng huyết áp, mất ngủ, tiểu tiện sẻn: Rau cần tây (tươi) 300g, bỏ rễ, rửa sạch, thái nhỏ, cho vào máy xay sinh tố, xay lọc lấy nước, thêm mật ong vừa đủ. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 40ml, khi uống hâm nóng.

Chữa tăng huyết áp, kèm theo bệnh mạch vành, cholesterol cao: Gốc cần tây (tươi) 10 gốc, rửa sạch, giã nát, thêm hồng táo 10g, sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày; liệu trình 15 – 20 ngày.

Chữa mất ngủ: Gốc rau cần tây liền cả rễ 90g, toan táo nhân 9g (sao cháy đen), sắc nước uống.

Chữa nhức đầu: Gốc rau cần cả rễ 1 nắm, rửa sạch, giã nát, xào với trứng gà, ăn ngày 2 lần.

Chữa phong thấp đau nhức, viêm khớp: Rau cần tây tươi, giã vắt lấy nước cốt, thêm đường trắng, đun sôi lại, uống thay trà trong ngày.

Chữa sản hậu đau bụng: Rau cần tây tươi 300g (hoặc khô 60g), sắc lấy nước, thêm chút đường đỏ hoặc rượu trắng vào, uống lúc đói.

Lưu ý: Nếu không có rau cần tây tươi, có thể dùng rau cần tây khô sắc nước uống. Có thể tự chế rau cần khô như sau: rau cần tây tươi chần qua nước sôi, vớt ra phơi khô trong bóng mát, cất đi dùng dần. Khi thấy huyết áp đã trở lại bình thường, nên ngừng ngay, không dùng kéo dài.

DS. Nguyễn Thị Hồng

Tin liên quan
#Cần tây điều hòa huyết áp

Sức Khỏe Đời Sống

Hành- gia vị có nhiều công dụng trị bệnh

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Hành- gia vị có nhiều công dụng trị bệnh
BS.CKII HUỲNH TẤN VŨ – 17:36 10/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Hành là loại rau gia vị phổ biến. Bạn có thể bắt gặp loại rau gia vị này ở bất cứ món ăn nào, từ xào, chiên, hấp, canh, bún, cháo, phở,… Hành còn là vị thuốc Đông y chữa trị được nhiều bệnh.

Tên tiếng Việt: Hành, hành hoa, hành hương, hom búa (Thái), búa (Tày), thông bạch, sông (Dao)…

Tên khoa học: Allium fistulosumL.  Họ:Alliaceae (Hành).

Mô tả cây

Hành lá một loại cỏ sống lâu năm, có mùi đặc biệt. Lá gồm 5-6 lá, hình trụ rỗng, dài 30- 50cm, đường kính 4-8mm, phía giữa phình lên, đầu thuôn nhọn. Cụm hoa mọc trên một cán mang hoa hình trụ, rỗng. Bao hoa gồm 2 vòng, mỗi vòng gồm 3 cánh, 3 lá đài màu trắng 6 nhị, chỉ nhị phình ở gốc, không có răng. Bao phấn hình chữ T, 2 ngăn, dài 1 mm, một nhuỵ, bầu thượng, 3 ngăn, mỗi ngăn có nhiều noãn. Quả nang, hình tròn đường kính chừng 6mm, hạt hình cạnh, màu đen.

Hành

Phân bố, thu hái và chế biến

Hành được trồng ở khắp nơi ở châu Á, Âu và nước ta, chủ yếu để làm gia vị, làm thuốc. Dùng tươi hay khô đều được. Mùa thu hoạch chủ yếu vào tháng 10-11.

Thành phần hóa học

– Trong hành có axit malic, phytin và chất alylsunfit.

– Có tinh dầu, trong tinh dầu chủ yếu có chất kháng sinh atixin C6H10OS2. Atixin là một chất dầu không màu, tan trong cồn, trong benzen, ête. Khi hòa tan trong nước dễ bị thủy phân, có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh.

Công dụng và liều dùng

– Hành là một vị thuốc thông dụng được ghi trong các tài liệu cổ từ lâu. Hành có vị cay, bình, không độc;  hòa trung, thông dương, hoạt huyết. Làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng. Sắc lấy nước chữa các chứng sốt, sốt rét, cảm, nhức đầu, phù thũng, an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng…  Hành đi vào hai kinh thủ thái âm (phế kinh) và túc dương minh (vị kinh).

– Hành kích thích thần kinh, tăng sự bài tiết dịch tiêu hóa,  phòng ký sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Tinh dầu hành sát khuẩn mạnh, dùng ngoài chữa những mụn nhọt mưng mủ. Nước hành nhỏ mũi chữa ngạt mũi, cấp tính và mãn tính, viêm niêm mạc mũi. Khi bị cảm mạo, đầu nhức, mũi ngạt… có thể dùng hành giã nát, thêm nước sôi vào rồi xông, hoặc cho hành vào cháo nóng để ăn.

HànhCháo hành là một trong những món ăn giải cảm hiệu quả

Bài thuốc chữa bệnh có hành

Cảm mạo, đầu nhức, mũi ngạt: Hành 30g, đạm đậu sị 15g, sinh khương 10g, chè hương 10g, nước 300ml. Đun sôi, gạn bỏ bã, uống khi còn đang nóng, uống xong đắp chăn kín cho ra mồ hồi.

Cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, ngạt mũi, sợ gió, nước tiểu trong: Củ hành tươi 30g, gừng tươi 10g, chè hương 10g. Sắc uống nóng, đắp chăn cho vã mồ hôi.

Hành 10g, tía tô 10g, bạc hà 10g, kinh giới 10g, sả 10g, lá tre 10g. Tất cả cho vào nồi, đổ nước đun sôi kỹ để xông. Xông xong, uống 1 bát nước lá rồi đắp chăn kín.

Chữa cúm: Hành hoa cả rễ 10 cây, 3 lát gừng. Cho vào nồi đổ nước sắc kỹ, pha đường uống khi còn nóng.

Chữa ho: Hành hoa 60g, gừng tươi 10g. Cho vào nồi đun kỹ để xông miệng mũi, ngày 2 – 3 lần. Hoặc hành 5g ngâm với mật ong qua đêm, lọc bỏ bã rồi pha một chút rượu uống. Cách 2 – 3 giờ uống một lần.

Chữa khản tiếng: Ăn hành củ sống, giã hành bọc vải đắp lên cổ.

Chữa trẻ con cảm mạo: Hành 60g, sinh khương 10g. Hai thứ giã nát, thêm một cốc nước thật sôi vào, dùng hơi xông miệng và mũi.

Chữa mụn nhọt: Hành tươi giã nát, trộn với mật, đắp lên mụn.

Phụ nữ động thai: Hành tươi 60g, thêm một bát nước, sắc kỹ, lọc bỏ bã cho uống.

Đau bụng, lạnh chân tay: Giã giập hành cả rễ và lá, để hành lên bụng, lăn chai nước nóng lên, khi hành nát thì thay hành khác. Khi vã mồ hôi, đun nước gừng khô uống nóng.

Đau bụng giun: Củ hành tươi 5g ép lấy nước, trộn với 5ml dấm uống hết một lần.

Tiêu chảy: Hành củ 5g, quả táo tây 5g sắc nước uống.

Đi tiểu ra máu: Đun 5g hành, nghệ 5g uống lúc còn nóng, ngày 2 lần.

Đại tiện, đầy hơi: Hành hoa 2 củ, gừng 1 lát, muối 1 thìa. Tất cả giã nhỏ, hơ nóng gói vào vải buộc vào rốn. Nếu nửa giờ chưa thông thì thay liều khác.

Hành tây cũng là vị thuốc

Ngoài cây hành nói trên, hiện nay nhiều nước còn dùng cây hành tây hay dương thông (Allium cepa L.) làm thuốc. Cây có nguồn gốc tây Châu Á, nhưng hiện được trồng rộng rãi ở nhiều nước. Cây hành tây có hình cầu dẹt, vẩy màu đỏ nâu, lá hình trụ rỗng, dài 2.550cm, đường kính 1-1,5cm. Cụm hoa hình tán nhưng tụ thành hình cầu màu hơi hồng hay hơi trắng. Quả khô, chứa nhiều hạt dẹt, màu đen. Trong củ hành tây có 0,015% tinh dầu, chủ yếu là allyl-disunfua, allyl-propyl-disunfua. Ngoài ra còn có phytin, axit hữu cơ (axil focmic, malic, xitric và photphoric) các chất inulin, manit, manoza, mantoza, các men maltaza, amylaza, dextrinaza và emunxin, vitamin B và C.

Bài thuốc từ hành tây chữa ho, trừ đờm, ra mồ hôi, lợi tiểu tiện; chứng bụng nước do gan cứng: Nước ép củ hành tươi trộn với cồn 90o. Ngày uống 14-40g. Có thể dùng nước ép củ hành tươi 200g, mật ong 100g, vang hay rượu nhẹ độ vừa đủ 1 lít. Ngày uống 2 lần, sáng và tối, mỗi lần 30g đến 60g.

BS.CKII HUỲNH TẤN VŨ

Tin liên quan
#hành lá
#hành hoa
#vị thuốc

Sức Khỏe Đời Sống

Cỏ đuôi lươn, vị thuốc trị bệnh ngoài da

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Cỏ đuôi lươn, vị thuốc trị bệnh ngoài da
BS.CKII HUỲNH TẤN VŨ – 20:38 10/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Cỏ đuôi lươn là một loài thực vật dạng thân thảo, có hoa, rất dễ sống. Có khả năng phát triển trong nhiều môi trường khác nhau, chẳng hạn như vùng đất phèn, đầm lầy, ao hồ, ven sông, suối, đồng ruộng hay trong vườn nhà. Trong Y học cổ truyền, cỏ đuôi lươn thường được sử dụng để chữa nấm kẽ chân, bệnh hậu sản, hắc lào, vảy nến, sưng đau ngoài da.

Tên gọi khác: Bồn chồn, thủy thông, điền thông, thủy giảo tiễn, đũa bếp, bạch căn tử, phiến hạp thảo.

Tên gọi khoa học: Philydrum lanuginosum.

Họ: Cỏ đuôi lươn – Philydraceae.

Cỏ đuôi lươn là một loài thực vật dạng thân thảo, có hoa. Cây mọc đứng, chiều cao của cây trưởng thành trung bình từ 0,35 – 1 mét. Thân cây bao phủ nhiều lông tơ màu trắng. Lông tập trung nhiều nhất phía dưới cụm hoa. Từ thân có thể phát triển thêm nhiều nhánh nhỏ.

Lá cây cỏ lươn mọc so le, có hình gươm, thuôn nhọn ở đầu. Các lá có kích thước không đều, có lá chỉ dài cỡ 8cm, rộng 4mm. Lá to có thể đạt đến chiều dài 70cm và bề ngang khoảng 10mm. Mặt trên lá có vạch dọc, mặt dưới lá chứa nhiều lông tơ trắng giống như ở thân. Phía dưới gốc có 4 – 5 lá dài hẹp mọc xếp lớp, bao bọc lấy thân. Các lá dưới gốc thường có kích thước to hơn so với lá mọc ở phần thân trên hay đầu cành.

Hoa cỏ lươn mọc thành cụm, màu vàng khá bắt mắt. Mỗi bông dài từ 2 – 5cm. Các hoa không có cuống, mọc so le có 1 nhị, 2 đài và 2 tràng. Phần bầu hoa phân làm 3 ngăn ranh giới không rõ ràng.

Sau mùa hoa, cây ra quả nang được bao bọc bởi các lá bắc. Bên ngoài quả có lông mịn.

Cỏ đuôi lươn

Một số khu vực có thể tìm thấy cỏ đuôi lươn:

– Tại Việt Nam: Bắc Ninh, Thừa Thiên- Huế, Bắc Giang; các tỉnh, thành ở khu vực Nam Bộ.

– Trên thế giới: Cây được phân bố ở nhiều quốc gia khác trên thế giới như: Trung Quốc, Campuchia, Ấn Độ, Lào, Úc, Nhật Bản…

Bộ phận sử dụng: Toàn cây cỏ đuôi lươn được dùng làm thuốc trị bệnh

Thu hái – sơ chế dược liệu: Khi thu hoạch cỏ đuôi lươn, cây sẽ được cắt sát gốc lấy phần mọc trên mặt đất. Sau khi đem về rửa sạch. Dùng tươi hoặc phơi ngoài nắng đến khi kiệt nước.

Cỏ đuôi lươn khô được đóng gói hoặc bỏ vào các hũ có nắp đậy kín để bảo quản được lâu hơn. Tránh để dược liệu trong môi trường không khí ẩm hoặc tiếp xúc với nước khi chưa sử dụng, sẽ phát sinh nấm mốc có hại.

Thành phần hóa học:

Hiện nay trên thế giới chưa có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị dược liệu của loại cỏ này. Trên trang Bách khoa toàn thư mở của Trung Quốc có đề cập một số công dụng của cỏ đuôi lươn như sau:

– Giải nhiệt, giảm nóng trong, hóa thấp.

– Tiêu độc.

– Chống thủy thũng.

– Kháng nấm.

Chủ trị: Nấm kẽ chân, thủy thũng, bệnh vảy nến, hắc lào, lở loét, sưng đau ngoài da.

Liều lượng và cách sử dụng

– Dùng trong: Sắc uống với liều 10 – 15g một ngày.

– Dùng ngoài: Liều lượng cân nhắc cho phù hợp với diện tích khu vực cần điều trị.

 

BÀI THUỐC CHỮA BỆNH TỪ CỎ ĐUÔI LƯƠN

Bệnh vảy nến, hắc lào: Thu hái toàn thân cây cỏ đuôi lươn tươi. Rửa kỹ rồi ngâm với nước muối. Giã nát, đắp lên vùng da bị bệnh hắc lào, vảy nến vài lần trong ngày.
Phòng ngừa, điều trị bệnh hậu sản ở phụ nữ sau sinh: Dùng khoảng 15g cỏ đuôi lươn ở dạng khô. Đem sắc lấy nước đặc chia uống vào các buổi sáng, trưa, tối trong ngày.
Trị sưng đau, lở loét ngoài da:
– Bài thuốc dùng ngoài: Cỏ đuôi lươn tươi giã nát, đắp trực tiếp hoặc vắt nước thoa vào chỗ sưng đau. Dùng cỏ tươi hoặc khô nấu nước rửa chỗ tổn thương 3 – 4 lần trong ngày.
– Thuốc uống trong: Lấy 10 – 15g cây cỏ lươn sắc nước uống đều đặn mỗi ngày cho đến khi da hết lở loét, sưng đau.
Trị nấm kẽ chân: Cỏ đuôi lươn tươi xay nhuyễn lấy nước cốt. Dùng nước này để rửa ngoài kẽ chân bị nấm vài lần mỗi ngày.
Người bệnh nếu có vấn đề về sức khỏe cần được thăm khám bởi thầy thuốc có chuyên môn. Không nên tự ý sử dụng thuốc.

 

BS.CKII HUỲNH TẤN VŨ

Tin liên quan

Các bệnh ngoài da hay gặp ở trẻ nhỏ

Da trẻ rất non nớt. Chính vì vậy, nếu không được vệ sinh tốt, trẻ rất dễ bị lây nhiễm các bệnh ngoài da. Một số bệnh thường gặp là:

4 bệnh ngoài da dễ mắc vào mùa đông

SKĐS – Mùa đông thời tiết lạnh thường kèm theo hanh khô, cơ thể ít tiết mồ hôi và các axít hữu cơ là nguyên nhân tăng tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh về da như: khô da, ngứa, chàm, vảy nến…

Ngừa 4 bệnh ngoài da ở vùng kín nam giới

SKĐS – Bệnh ngoài da vùng kín làm cho người bệnh thấy khó chịu, bứt rứt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, sức khỏe tình dục và sinh hoạt hàng ngày. Bệnh luôn là kẻ thù của không chỉ nữ giới mà cả nam giới.

Các bệnh ngoài da thường gặp ở người cao tuổi

SKĐS – Do tuổi tác, sức đề kháng của người cao tuổi bị suy giảm một cách đáng kể, da trở nên nhăn nheo, giảm tính đàn hồi, khô hơn, dẫn đến da của người cao tuổi rất dễ mắc bệnh.

#bệnh ngoài da

Sức Khỏe Đời Sống

Kim ngân hoa – thuốc thanh nhiệt, giải độc

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Kim ngân hoa – thuốc thanh nhiệt, giải độc
TS. Nguyễn Đức Quang – 21:00 10/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Kim ngân hoa là nụ hoa của cây nhẫn đông (Lonicera japonica Thunb.), thuộc họ cơm cháy (Caprifoliaceae). Kim ngân hoa còn có tên nhẫn đồng. Dây leo của cây nhẫn đông có tên nhẫn đông đằng (hay gọi là kim ngân dây); công dụng giống kim ngân hoa nhưng hơi kém hơn; có tác dụng trừ phong nhiệt ở kinh lạc mà giảm đau. Kim ngân hoa sao đen gọi là kim ngân hoa khôi; tác dụng lương huyết, cầm đi lỵ, trị xích lỵ, đại tiện ra máu.

Về thành phần hoạt chất, kim ngân hoa có các flavonoid: luteolin, lonicerin; tannoid và chất sáp… Tác dụng kháng virus, vi khuẩn, chống viêm hạ sốt, điều hoà chức năng miễn dịch, giảm mỡ máu, làm tăng cường nhu động ruột, tăng tiết dịch vị và dịch mật.

Theo Đông y, kim ngân hoa vị ngọt, tính lạnh; vào phế, vị, tâm, tỳ, đại tràng.

Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, chỉ lỵ. Trị các bệnh cấp tính gây sốt cao, viêm khí phế quản đau rát họng, ho, miệng khô họng khát, hội chứng kiết lỵ, mụn nhọt lở ngứa, phát ban. Liều dùng và cách dùng: 8 – 125g; bằng cách nấu, sắc, hãm.

Cháo hạt sen, kim ngân tốt cho người bị tiêu chảy cấp, lỵ cấp, mụn nhọt cấp tính; các bệnh siêu vi trùng cấp sốt nóng, sưng hạch phát ban.

Cháo hạt sen, kim ngân tốt cho người bị tiêu chảy cấp, lỵ cấp, mụn nhọt cấp tính; các bệnh siêu vi trùng cấp sốt nóng, sưng hạch phát ban.

Kim ngân được dùng làm thuốc

Giải độc trị nhọt: trị ung nhọt do nhiệt độc.

Bài 1: kim ngân hoa 20g, cam thảo 20g. Sắc uống. Dùng một lượng kim ngân hoa tươi tùy ý, giã nát, chế với rượu, đắp xung quanh chỗ đau. Trị mọi chứng ung thũng nhọt độc.

Bài 2: kim ngân hoa (hoặc kim ngân dây) 12g, cúc hoa 2g, bồ công anh 12g, sinh cam thảo 4g. Sắc uống. Trị mụn nhọt sưng đau.

Bài 3 – Thanh trường ẩm: kim ngân hoa 200g, mạch đông 63g, địa du 63g, hoàng cầm 16g, cam thảo 12g, huyền sâm 125g, ý dĩ nhân 20g, đương quy 125g. Sắc uống. Trị viêm ruột thừa cấp tính hoặc viêm phúc mạc cục bộ.

Tán nhiệt giải biểu: trị chứng nhiệt mới mắc phát sốt.

Bài 1 – Ngân kiều tán: kim ngân hoa 16g, liên kiều 12g, cát cánh 8g, bạc hà 4g trúc diệp 12g, cam thảo 4g, kinh giới tuệ 8g, ngưu bàng tử 12g, đậu nhự 8g. Sắc uống. Tác dụng tân lương giải biểu, thanh nhiệt giải độc. Trị các bệnh thuộc nhiệt, ớn lạnh phát sốt, yết hầu sưng đau hoặc viêm tuyến mang tai cấp tính.

Bài 2: kim ngân hoa 20g, bồ công anh 20g, hạ khô thảo 20g. Sắc uống. Phòng viêm màng não.

Một số thực đơn chữa bệnh có kim ngân

Ngân hoa bạc hà ẩm: kim ngân hoa 30g, bạc hà 10g, lô căn tươi 60g. Sắc lô căn và kim ngân khoảng 15 phút, cho tiếp bạc hà đun thêm trong 3 phút, đem lọc lấy nước pha thêm đường, uống. Dùng cho người bị cảm nhiệt, sốt nóng, thời kỳ đầu của các bệnh nhiễm virus như sốt xuất huyết, phát ban, sốt sưng hạch…

Nước chè kim ngân hoa cúc: kim ngân hoa, cúc hoa, liều lượng bằng nhau 10 – 12g. Pha hãm uống thay chè. Dùng tốt cho  người bị cảm nắng (say nắng, say nóng), nổi ban mẩn ngứa dị ứng.

Kim ngân hoa ẩm: kim ngân hoa 30g sắc lấy nước, cho thêm đường liều lượng tuỳ ý, đun sôi lại, chia uống 3 lần trong ngày. Dùng tốt cho người bệnh có hội chứng lỵ cấp: sốt nóng, đầy bụng, nôn thổ, đại tiện xuất huyết, đau quặn bụng.

Cháo hạt sen, kim ngân: kim ngân hoa 30g, gạo tẻ 60g, hạt sen 30g. Kim ngân nấu sắc lấy nước, đem nấu cháo với gạo vo sạch và hạt sen, cháo chín thêm chút đường hoặc muối. Dùng tốt cho người bị tiêu chảy cấp, lỵ cấp, mụn nhọt cấp tính; các bệnh siêu vi trùng cấp sốt nóng, sưng hạch phát ban.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn không dùng; người bị mụn nhọt thuộc âm, hoặc khi vỡ chảy nước, mủ chảy ra màu trong nhạt, đều không nên dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Kim ngân hoa – thuốc thanh nhiệt
#giải độc

Sức Khỏe Đời Sống

Hành hoa làm thuốc

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Hành hoa làm thuốc
TS. Nguyễn Đức Quang – 15:38 14/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Hành hoa là gia vị không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Củ hành muối là món ăn đặc sản trong những ngày Tết. Tuy nhiên ít người biết, hành hoa còn cung cấp nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe và là vị thuốc dân gian trị nhiều bệnh.

Bộ phận dùng làm thuốc là thân hành – Herba Allii fisculosii hay Bulbus Allii fisculosii. Thân hành có tinh dầu, chủ yếu là alilicin và các hợp chất diallyldisulfit khác; chất nhầy; saponin, acid béo, đường và vitamin B1, B2, C…

Theo Đông y, thông bạch có vị cay, tính ôn; vào kinh phế và vị. Tác dụng phát tán giải biểu, khu phong tán hàn, ôn trung hồi dương cứu nghịch, điều vị giải độc. Trị cảm mạo phong hàn, sợ gió sợ rét không có mồ hôi; các chứng lý hàn ngoại nhiệt, tay chân lạnh cứng, trụy mạch, tiêu chảy; đau quặn bụng do giun sán, bí tiểu cấp; giải độc do ăn cua cá. Ngày dùng 5-40g cho vào thực phẩm; dùng tươi.

Bài thuốc có hành

Tán hàn, giải biểu: thông bạch 12g, đậu xị 12g. Sắc uống. Trị cảm mạo phong hàn mới mắc và nhẹ.

Hoạt huyết, thông dương: thông bạch 40g, can khương 12g, phụ tử 12g. Sắc uống. Trị đi tả cấp tính, chân tay lạnh, mạch nhỏ.

Trị giun, giảm đau: thông bạch 40g, dầu lạc hay dầu gai hoặc ôliu 40g. Thông bạch nghiền và ép lấy nước, trộn đều với dầu để uống. Hoặc uống thông bạch trước uống dầu sau, hoặc ngược lại đều được. Trị giun đũa làm tắc đường mật hoặc ruột bị tắc cứng do giun.

Củ hành muối tác dụng tiêu thực, ôn trung, giải uất.

Củ hành muối tác dụng tiêu thực, ôn trung, giải uất.

Món ăn thuốc có hành hoa

Món ăn cho bệnh nhân ngoại cảm phong hàn, đau bụng nôn ói…: Cháo hành giải cảm: hành sống 1-3 củ; gừng tươi 3 lát. Giã nát cho vào bát tô, đổ cháo trắng đang sôi vào, khuấy đều, thêm đường, muối tùy ý. Ăn nóng.

Món ăn cho người đau bụng do lạnh, buồn nôn, nôn ra nước trong: Thông tiêu ẩm: hành 20g, gừng tươi 10g, bột tiêu 3g. Giã nát, hãm nước sôi, uống.

Món ăn cho người bị cảm mạo phong hàn, đau đầu, đau tức vùng ngực không có mồ hôi, sợ gió sợ lạnh kèm theo đau bụng buồn nôn, tiêu chảy: Thông xị thang: hành tươi cả rễ 30g, gừng tươi 8g, đạm đậu xị 12g, rượu nhạt (hoàng tửu) 30ml. Hành đem rửa sạch thái lát, gừng đập giập. Cả 3 vị thuốc cho vào nồi, thêm 500ml nước, đun sôi, cho tiếp rượu vào, khuấy đều, gạn lấy nước thuốc. Uống nóng làm vã mồ hôi.

Món ăn cho người suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể sau chữa bệnh lâu ngày, mất ngủ, đau nhức gân xương: Thông táo thang: đại táo 20 quả, củ hành có rễ và lá 7 củ. Đại táo rửa sạch ngâm mềm, cho thêm 1 bát nước đun nhỏ lửa 20 phút, cho tiếp hành đã rửa sạch thái lát, tiếp tục đun 10 phút, để nguội. Ăn táo và uống nước.

Món ăn cho người bị kinh động do sấm chớp, đụng tàu xe, đổ đất đá, tuy không gây chấn thương nhưng gây đau tức vùng ngực lưng: Canh mướp hành củ cải: cải củ 150g, mướp 100g, hành 10g. Cải củ và mướp gọt vỏ thái miếng, nấu với nước lượng thích hợp, trước khi bắc ra cho hành thái lát và gia vị mắm muối.

Hành muối: có mùi thơm, vị cay, tính ấm, không độc. Tác dụng phát tán giải cảm, ôn trung, thông dương, hoạt huyết, giải được chứng uất do bên ngoài gây nên. Khi lên men làm mất vị cay, loại bỏ tính phát tán mà giữ lại tính tiêu thực, ôn trung, giải uất, rất hợp khi ăn với thịt mỡ hay thịt quay trong mùa lạnh.

Kiêng kỵ: Người biểu hư đa hãn (ra mồ hôi nhiều), âm hư nội nhiệt, viêm kết mạc kiêng dùng.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin liên quan
#Hành hoa làm thuốc

Sức Khỏe Đời Sống

10 loại rau giúp phòng chữa bệnh mùa lạnh

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
10 loại rau giúp phòng chữa bệnh mùa lạnh
Lương y Minh Phúc – 20:12 19/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Khi thời tiết đổi mùa trở lạnh, nhiều người hay sợ lạnh đau đầu, ho, sổ mũi, nhức mỏi. Bệnh phần nhiều do dương, khí hư vệ khí kém, ăn uống kém, trang phục không đủ ấm nên bị nhiễm lạnh. Để phòng trị, nên chọn món ăn giúp làm ấm cơ thể, giải hàn tà. Xin giới thiệu một số loại rau có tính ấm phòng trị cảm lạnh rất tốt trong mùa đông.

Hẹ: vị hơi chua, cay, tính ấm, không độc. Tác dụng chữa viêm họng, ho, hen, tiêu hoá kém, nhiệt lỵ, trĩ, đau lưng, di mộng tinh, lạnh ngứa dị ứng nỗi mề đay… Hẹ bổ trận tráng dương, rất tốt cho người dương khí hư sợ lạnh sợ gió. Dùng phối hợp rau hẹ non giá đậu xanh gia vị xào ăn, hoặc nấu canh óc heo, món hẹ hủ tiếu, mì xào, ăn sống với nhiều loại rau khác, hẹ đúc trứng, bánh bao nhân hẹ, thịt băm viên hẹ… đều tốt, ngon, bổ.

Củ kiệu: vị cay tính ấm. Tác dụng thông dương, tán kết, hành khí, giảm đau, bổ trung, an thai, lợi thủy… Chữa chứng ho đàm, ho khan tức ngực khó thở, tiểu gắt, tiểu đục, chứng phụ nữ có khí hư… Củ kiệu là vị thuốc quý cho người dương hư chịu lạnh kém. Kiệu non lấy lá xào hoặc nấu canh; củ kiệu già muối chua ăn kèm thịt mỡ, cá kho, hoặc xé nhỏ làm gỏi thịt gà, làm gỏi ăn.

Tía tô: vị cay, tính ấm… Tác dụng trị ngoại cảm phong hàn, đầy bụng, nôn, tiêu đờm giảm ho, lý khí an thai… Có thể ăn sống, xay nước, phối hợp rau thơm khác ăn kèm với thịt, cá chấm mắm ăn, hoặc phơi khô sắc uống.

Gừng tươi (sinh khương): vị cay tính ấm. Tác dụng giải biểu, tán hàn, hành thủy, chống nôn, ôn tỳ phế… Dùng giải cảm nên nấu cháo có gừng tươi, tía tô, hành, ăn nóng; hoặc nấu canh, xào rau củ cho nhiều gừng.

Hành tây xào thịt bò rất tốt cho người bị cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu, bụng đầy, nhiễm khuẩn đường ruột, bí tiểu, mỡ máu cao, phong thấp nhức mỏi...

Hành tây xào thịt bò rất tốt cho người bị cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu, bụng đầy, nhiễm khuẩn đường ruột, bí tiểu, mỡ máu cao, phong thấp nhức mỏi…

Hành ta: vị cay, tính ấm. Tác dụng giải biểu, thông dương, hòa tỳ vị, sát trùng, thông kinh, lợi tiểu… Chữa cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu, bụng đầy khó tiêu, nhiễm khuẩn đường ruột, bí tiểu tiện… Hành ta cùng tía tô, gừng tươi nấu cháo; hoặc hành xào với thịt, cá, muối chua, ăn sống.

Hành tây: vị cay, tính ấm. Tác dụng giải biểu, kiện tỳ, hòa trung, tiêu thực, sát khuẩn, lợi tiểu tiện… Trị cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu, bụng đầy, nhiễm khuẩn đường ruột, bí tiểu, mỡ máu cao, phong thấp nhức mỏi… Hành tây kết hợp thịt, cá, xào, làm gỏi, hầm, luộc hoặc sắc nước uống đều tốt.

Húng quế (húng dổi): vị cay tính ấm… Tác dụng kiện tỳ, thông phế, sát khuẩn, an thần, thư cơ, lợi ngũ tạng… Trị cảm lạnh, ho sổ mũi, bụng đầy, viêm đại tràng co thắt, suy nhược, đau đầu khó ngủ, phụ nữ sau sinh ít sữa, viêm mũi dị ứng, ngạt mũi. Húng quế ăn sống hoặc phối hợp rau thơm khác quấn thịt cá chấm mắm ăn; toàn cây phơi khô sắc uống.

Kinh giới: vị cay, thơm tính ấm. Tác dụng giải biểu khu phong trừ thấp, cầm huyết, giải độc… Chữa cảm phong hàn sợ lạnh, sốt nhức đầu nghẹt mũi, ho, mẩn ngứa, ban sởi, mụn nhọt, xuất huyết… Có thể ăn sống, phối hợp rau thơm khác quấn thịt cá ăn, hoặc sắc uống, đều tốt.

Rau mùi (ngò rí): vị cay, tính ôn, không độc. Tác dụng giải biểu thăng dương, trừ tà khí, long đàm, phấn chấn thần kinh, mạnh sinh lý, tăng trí nhớ… Trị cảm cúm, cảm lạnh, đau đầu, sổ mũi, nghẹt mũi… Rau mùi ăn sống, ăn lẩu, luộc, nấu canh, quấn thịt cá ăn, sắc uống đều tốt.

Cải canh (cải xanh): vị cay, tính ấm. Tác dụng thông khí trừ đờm, ấm tỳ vị, lợi tiêu hoá. Trị ngoại cảm ho nhiều đờm, suyễn thở, bụng đầy đau, nôn mửa do lạnh… Cải canh nấu với cá, thịt, gừng, tiêu nấu canh, hoặc xào, ăn sống, sắc nước sắc uống đều tốt.

Lương y Minh Phúc

Tin liên quan
#10 loại rau giúp phòng chữa bệnh mùa lạnh

Sức Khỏe Đời Sống

Bài thuốc chữa bệnh từ đậu tương

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Bài thuốc chữa bệnh từ đậu tương
DS. Mai Thu Thủy – 09:19 20/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Hạt đậu có vô vàn màu sắc đa dạng khác nhau, người ta cũng thường dựa theo màu sắc để đặt tên cho nó như đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh…Nhưng trong các loại đậu tạo thành ngũ cốc thì đậu tương chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là lượng đạm dồi dào.

Cây đậu tương hoặc đậu nành là một loại cây nằm trong dòng họ Đậu, tên khoa học là Glycine max. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, đậu nành có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe như: chống loãng xương, giảm các triệu chứng của phụ nữ như tiền mãn kinh, ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến, đặc biệt là giảm nguy cơ cho bệnh tim mạch.

Trong 100g đậu nành các thành phần dinh dưỡng cơ bản bao gồm: năng lượng 173Kcal, nước 63%, protein 16,6g, carbs 9,9g, fat 9g và các vitamin. Đậu nành cung cấp các vitamin tan trong nước (vitamin nhóm B, C), vitamin tan trong dầu, vitamin K tốt cho quá trình đông máu, mà còn cung cấp các chất khoáng như canxi, sắt, kẽm… Trong đậu nành chứa nhiều chất xơ rất cần thiết cho sức khỏe, đặc biệt tốt cho tim mạch, cải thiện các vấn đề tiêu hóa. Bên cạnh đó, đậu nành chứa các chất có hoạt tính sinh học, giúp cơ thể chống gốc tự do, chống lão hóa, giảm cholesterol máu.

Đậu tương chứa nhiều chất xơ đặc biệt tốt cho tim mạch, cải thiện các vấn đề tiêu hóa.

Đậu tương chứa nhiều chất xơ đặc biệt tốt cho tim mạch, cải thiện các vấn đề tiêu hóa.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu lạm dụng đậu nành có thể làm ảnh hưởng không tốt đến chức năng tuyến giáp, hoặc gia tăng nguy cơ bị dị ứng.

Để tận dụng những giá trị dinh dưỡng tốt cũng như hạn chế tác dụng không mong muốn khi sử dụng đậu tương, cần đi khám sức khỏe định kỳ để được khám, điều trị cũng như tư vấn chế độ ăn phù hợp với tình trạng sức khỏe từng người.

Trong y học cổ truyền, các thầy thuốc đời xưa đã rất chú trọng dùng đậu và các sản phẩm từ đậu đơn thuần hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác nhằm mục đích vừa bồi bổ sức khỏe vừa trị liệu bệnh tật. Dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc một số phương thuốc bổ dưỡng bằng đậu tương để bạn đọc tham khảo với công dụng và cách dùng cụ thể:

Bài 1: đậu tương, vừng đen, lạc, đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ lượng bằng nhau, đường trắng lượng vừa đủ. Các vị sao thơm tán bột, trộn đều, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 30g với nước đường hoặc sữa tươi. Công dụng: tư bổ can thận, cường than đen tóc, dùng thích hợp cho những người thể chất suy nhược, sắc mặt không tươi, tóc bạc sớm hoặc rụng nhiều, có thể dùng làm bột ăn dưỡng sinh hàng ngày.

Đậu tương chữa tóc bạc sớm.

Đậu tương chữa tóc bạc sớm.

Bài 2: bột đậu tương 100g, bột mì 100g, bột ngô 200g, trứng gà 4 quả, đường đỏ 150g, sữa bò 150g. Ba thứ bột trộn đều cùng đường đỏ, đập trứng và đổ sữa bò vào rồi chế them nước vừa đủ, trộn kỹ, nặn thành những chiếc bánh nhỏ, nướng chín, mỗi ngày ăn 30-50g. Công dụng: kiện tỳ ích vị, tư âm bổ huyết, chuyên dùng cho sản phụ suy nhược, thiếu máu do thiếu sắt.

Bài 3: đậu phụ 200g, đầu cá chép 1 cái, khiếm thực 25g, rau cần, hành, gừng tươi, dầu vừng và gia vị vừa đủ. Đầu cá làm sạch bổ đôi, ướp với gừng và gia vị rồi nấu sôi. Khiếm thực ngâm nước ấm cho mềm rồi xát bỏ vỏ, đậu phụ thái miếng rán vàng. Cho khiếm thực, đậu rán, rau cần và hành vào nồi nấu cùng đầu cá cho chín, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng: bổ dưỡng não tủy, dùng cho người bị suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể.

Bài 4: đậu tương 1.000g, đan sâm 500g, mật ong 250g, đường phèn 30g. Đậu tương rửa sạch, ngâm nước lạnh trong 1 giờ, sau đó đổ vào nồi ninh nhỏ lửa với 3.000ml nước cho nhừ rồi tán nhuyễn. Đan sâm rửa sạch, ngâm nước 1 giờ rồi sắc kỹ 2 lần lấy dịch chiết, bỏ bã. Trộn dịch đậu tương và dịch đan sâm với nhau, hòa mật ong và đường phèn rồi đem chứng cách thủy trong 2 giờ, để thật nguội rồi cho vào lọ, đậy kín dùng dần. Mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần chừng 15g. Công dụng: tư âm nhuận táo, bổ ích ngũ tạng, thông kinh hoạt lạc, dùng rất tốt cho những người suy nhược cơ thể có vữa xơ động mạch, huyết áp cao, viêm gan mạn tính.

DS. Mai Thu Thủy

Tin liên quan
#Bài thuốc chữa bệnh từ đậu tương

Sức Khỏe Đời Sống

Hải kim sa – thuốc thông lâm, thanh nhiệt, lợi thấp

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Hải kim sa – thuốc thông lâm, thanh nhiệt, lợi thấp
BS. Phương Thảo – 19:34 20/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Hải kim sa là bào tử khô của dây bòng bong (Hải kim sa) (Lygodium japonicum), thuộc họ bòng bong (Schiraeaceae). Thu hái vào tháng 8 hoặc 9, cắt những cành lá hải kim sa vừa mới chín, phơi khô, đập lấy những bào tử nhỏ màu nâu vàng ở dưới lá, rây bỏ cành lá đi là được.

Theo Đông y, dây bòng bong vị ngọt, tính hàn; vào kinh bàng quang và tiểu trường. Tác dụng thông lâm, thanh nhiệt, lợi thấp. Trị tiểu ra mủ, sỏi, lậu nhiệt, tiểu đau buốt. Ngày dùng 4 – 12g, có thể đến 63g, dây bòng bong 20 – 63g.

Bài thuốc có hải kim sa

Lợi niệu thông lâm: trị tiểu ít, đỏ, tiểu có nhớt có sỏi, tiểu buốt.

Bài 1 – Thuốc bột hải kim sa: hải kim sa 63g, hoạt thạch 63g, cam thảo cành 12g. Các vị nghiền bột. Mỗi lần uống 8g; uống với nước sắc 20g mạch môn đông. Trị tiểu rắt buốt, tiểu đỏ.

Bài 2: hải kim sa 63g, hoạt thạch 20g, bạch mao căn 20g, cây đồng tiền 125g, cây mã đề 12g. Sắc uống. Trị tiểu nhỏ giọt, tắc do kết sỏi trong niệu đạo.

Bài 3: hải kim sa 15g, khiên ngưu tử 30g (nửa để sống, nửa sao chín), cam toại 15g. Nghiền bột, trộn đều. Mỗi lần dùng 8g, đun với 1 bát nước, uống trước bữa ăn hàng ngày. Chữa toàn thân phù thũng, bụng trướng căng, không thở được.

Hải kim sa (bào tử khô của dây bòng bong) là vị thuốc trị tiểu rắt buốt, tiểu đỏ do sỏi niệu quản.

Hải kim sa (bào tử khô của dây bòng bong) là vị thuốc trị tiểu rắt buốt, tiểu đỏ do sỏi niệu quản.

Giải độc chữa mụn nhọt: trị ung nhọt, mụn lở và bỏng loét.

Bài 1: dây bòng bong 63g, rễ mã lan 63g. Sắc uống. Trị viêm vòm miệng do nấm.

Bài 2: hải kim sa 30 – 63g. Sắc bằng rượu loãng để uống. Trị viêm tuyến vú.

Bài 3: dây bòng bong tươi giã nát đắp chỗ đau, ngày 2 lần. Trị lên sởi nổi mụn.

Bài 4: hải kim sa, ké đầu ngựa, nhân trần, phèn chua, phèn sắt, phèn đồng, thục địa, lượng như nhau. Các vị nghiền bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần (sáng, tối), mỗi lần 12g, chiêu với nước đun sôi. Trị giun móc.

Một số bài thuốc khác

Chữa ăn uống khó tiêu, bụng ngực đầy trướng do thấp trệ: hải kim sa 30g, bạch truật 8g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang

Chữa viêm gan: hải kim sa 15g, nhân trần 30g, xa tiền thảo 20g. Sắc uống ngày 1 thang

Chữa đi lỵ ra máu: dây và lá bòng bong 60 – 90g. Sắc uống 2 – 3 lần trong ngày.

Chữa phụ nữ bị bạch đới: dây và lá bòng bong 100g, thịt lợn nạc 100 – 150g. Hầm kỹ, bỏ bã thuốc, ăn thịt và uống nước canh.

Kiêng kỵ: Người âm hư không bị thấp cấm uống.

BS. Phương Thảo

Tin liên quan
#Hải kim sa – thuốc thông lâm
#thanh nhiệt
#lợi thấp

Sức Khỏe Đời Sống

Rau sam trị lỵ, sỏi tiết niệu

Bài Thuốc Quanh Ta

Cây thuốc quanh ta
Rau sam trị lỵ, sỏi tiết niệu
BS. Phương Thảo – 11:08 25/01/2021 GMT+7

Suckhoedoisong.vn – Rau sam là một loại rau dân dã, quen thuộc trong đời sống của người dân Việt Nam nhưng không phải ai cũng biết nó còn là một vị thuốc quý có thể hỗ trợ chữa nhiều loại bệnh. Bộ phận dùng là toàn cây.

Trong 100g rau có chứa 92g nước; 1,7g protein; 0,4g chất béo; 3,8g carbohydrate; 103mg Ca; 39mg P; 3,6mg Fe; 0,03mg vitamin B1; 25mg vitamin C; 2.550 đơn vị quốc tế vitamin A. Toàn cây có coumarin (các sắc tố nhóm betacyanidin), flavonoid, glucoside… và chất nhầy. Cây mọc ở vùng có thổ nhưỡng khác nhau có lượng calci oxalate hay nitrat khác nhau.

Theo Đông y, rau sam vị chua, tính lạnh, vào đại tràng, can và thận. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, mát máu, tán huyết tiêu thũng. Trị hội chứng lỵ, viêm đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu (tiểu giắt buốt, tiểu ra huyết và cặn sỏi), mụn nhọt lở ngứa. Ngày dùng 60 – 200g tươi (hoặc 15 – 40g khô); bằng cách nấu, luộc, ép nước. Sau đây là một số bài thuốc và thực đơn chữa bệnh có rau sam.

Rau sam không chỉ là rau ngon mà còn  là vị thuốc dân gian phòng trị nhiều bệnh.

Rau sam không chỉ là rau ngon mà còn  là vị thuốc dân gian phòng trị nhiều bệnh.

Chữa lỵ

Rau sam 100g, cỏ sữa nhỏ lá 100g, Sắc uống trong ngày; nếu đi ngoài ra máu, thêm cỏ nhọ nồi 20g, rau má 20g.

Rau sam 20g, cỏ nhọ nồi 20g, lá nhót 20g, búp ổi 20g. Phơi hay sấy khô, tán bột mịn, làm hoàn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 15g.

Rau sam 50g, cỏ sữa nhỏ lá 50g, chỉ xác 20g, binh lang 20g, lá trắc bá 20g, vỏ rụt 20g, hoa hòe 20g. Sấy khô, tán bột. Mỗi ngày uống 20g với nước vối.

Cháo rau sam: rau sam tươi 100g – 200g, gạo tẻ 90g. Cả 2 nấu cháo, thêm bột gia vị, ăn khi đói. Dùng tốt cho người có hội chứng lỵ xuất huyết.

Rau sam xào: rau sam 250g xào với dầu thực vật, thêm bột gia vị. Dùng cho người có hội chứng lỵ.

Chữa tiểu buốt, tiểu ra máu

Nước ép rau sam: rau sam 100g rửa sạch để ráo, giã nát, thêm nước sôi để nguội  vắt lấy 100ml, thêm ít đường trắng khuấy đều. Ngày làm 3 lần. Dùng tốt người bị viêm đường tiết niệu, mụn nhọt, lở ngứa.

Nước ép rau sam hoà mật: nước ép rau sam 60 – 100ml đun vừa sôi, thêm 20ml mật ong khuấy đều uống. Dùng tốt cho sản phụ sau đẻ đau quặn bụng, tiểu rắt buốt.

Chữa xích bạch đới

Rau sam 100g, lòng trắng trứng gà 2 quả. Rau sam giã nát vắt lấy nước, thêm lòng trắng trứng vào; hấp chín. Ăn trong ngày, dùng liền 3 – 5 ngày.

Kiêng kỵ: Người hư hàn tiết tả (tiêu chảy) không dùng.

BS. Phương Thảo

Tin liên quan
#Rau sam trị lỵ
#sỏi tiết niệu

Sức Khỏe Đời Sống